Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NIEM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NIEM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 10, 2011

Gặp gỡ chúa giêsu nơi những tình yêu khiêm nhường

Gặp gỡ Chúa Giêsu nơi những tình yêu khiêm nhường



Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8).

Đó là Lời Chúa. Tôi tin Lời ấy. Lời ấy đã ứng nghiệm nơi tôi. Nên tôi xin nói thêm: Không những tôi tin, mà tôi đã cảm nghiệm được niềm tin ấy một cách sâu sắc. Một thứ cảm nghiệm giống như một gặp gỡ sống động.

Xin phép được chia sẻ vài loại gặp gỡ như thế. Ở đây tôi sẽ không nói về những gặp gỡ trong các bí tích, trong cầu nguyện và suy gẫm. Nhưng sẽ chỉ nhấn mạnh đến những gặp gỡ qua những con người giàu tình yêu khiêm tốn.

1. Tôi gặp được Chúa nơi những ai rung động trước cảnh khổ đau của con người

Đọc Phúc Âm, tôi thấy Chúa Giêsu gần gũi những người bệnh tật. Người cảm động trước cảnh bà goá thành Naim khóc thương con mình (x. Lc 7,11-17). Người nghiêng mình xuống gọi người đàn bà còng lưng nghèo khó để chữa lành cho bà (x. Lc 13,10-13). Người lắng nghe người mù ngồi ăn xin ở vệ đường và đã cho mắt anh được sáng (x. Lc 18,35-43). Người cúi mình xuống nói chuyện với người bại liệt nằm trên bờ hồ Bếtdatha đã 38 năm, và đã chữa anh khỏi tật bệnh (x. Ga 5,1-9).

Những cử chỉ như thế đã được Chúa Giêsu thực hiện thường xuyên. Tất cả đều nói lên tình yêu. Tình yêu đó rất khiêm nhường. Chính tình yêu khiêm nhường đã mạc khải về Chúa.

Nhìn thấy tình yêu khiêm nhường, người ta dễ nhận ra Chúa là Tình Yêu. Yêu thương mà khiêm nhường, thế mới là tình yêu đạo đức. Càng khiêm nhường trong yêu thương, càng chứng tỏ một sức thiêng đến từ Thiên Chúa.

Số người yêu thương khiêm tốn đối với những kẻ khổ đau hiện nay không phải là ít.

Bản thân tôi nhiều khi giống như người bại liệt, đau đớn cả nơi thân xác lẫn trong tâm hồn. Bất ngờ có những tiếng gọi, quen và không quen. Những tiếng gọi ấy gởi tới nhiều khích lệ. Những tiếng gọi ấy đã làm tôi như được chữa lành. Đó là những tình yêu rất khiêm nhường. Trong những tình yêu ấy tôi nhận ra Chúa, tôi gặp được Chúa là tình yêu. Xin hết lòng cảm ơn những tình yêu cao quý ấy.

2. Tôi gặp được Chúa nơi những ai từ bỏ mình, dấn thân phục vụ con người

Phúc Âm cho thấy: Thiên Chúa là tình yêu rất mực khiêm nhường, được mạc khải nơi Đức Kitô từ bỏ mình.

Đức Kitô nghèo khổ trong hang đá Bêlem, trong đời lao động vất vả ở Galilêa, trong cảnh nhục nhã đau đớn tột độ trên thánh giá. Với sự từ bỏ mình như thế, Đức Kitô đã mạc khải Thiên Chúa là Tình Yêu.

Thánh Phaolô viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây Thánh giá. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,6-11).

Như thế, lộ trình mạc khải về tình yêu Chúa Cha là suốt cuộc đời từ bỏ mình của Chúa Giêsu. Qua lộ trình đó, Chúa Cha được giới thiệu, và chính Đức Kitô được quang vinh.

Lộ trình làm chứng như thế nay vẫn được nhìn thấy nơi nhiều cuộc đời xung quanh tôi. Họ thuộc đủ loại người. Có thể nói: Đời họ là chuỗi dài những hy sinh, chỉ vì mục đích cứu độ, phục vụ người khác theo gương Đức Kitô trên Thánh giá. Trong hy sinh có từ bỏ, có đớn đau, có yêu thương và hy vọng. Chính nhờ Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường hoạt động trong họ, mà họ có thể hy sinh đến như vậy.

Những cuộc sống như vậy đã làm chứng cho tình yêu khiêm nhường của Chúa. Một thứ khiêm nhường có sức cứu độ và thánh hoá.

3. Tôi gặp được Chúa nơi những ai xót thương kẻ tội lỗi

Phúc Âm có nhiều chỗ khiến tôi xúc động. Nhưng những chỗ ghi lại tấm lòng xót thương của Chúa Giêsu đối với những kẻ tội lỗi đã khiến tôi xúc động hơn hết. Chẳng hạn những lời Chúa phán và những việc Chúa làm sau đây:

Thầy không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13).

Ai có một trăm con chiên, mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó hơn là vì 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14).

Dụ ngôn người cha có hai người con đã chú ý đến người con hư đốn. Một đứa bỏ nhà ra đi sống đời phung phá. Một đứa ở lại ngoan ngoãn bên cha. Ngày nọ, đứa con phung phá nghĩ lại đã trở về. Người cha tỏ ra hết sức vui mừng, đón tiếp người con đó một cách âu yếm quảng đại. Thấy người con ngoan tỏ vẻ khó chịu, người cha đã nói: “Chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,32).

Ngày nay, lòng xót thương của Chúa dành cho những kẻ tội lỗi vẫn được thực hiện, không những qua Bí tích Giải Tội, mà cũng qua những con người nhân hậu.

Kinh nghiệm cho thấy: nhân hậu với những kẻ tội lỗi không luôn dễ thực hiện. Nhất là khi kẻ tội lỗi thuộc loại hư hỏng, phá phách, cứng lòng, đi quá sâu vào con đường tồi tệ. Tự nhiên, người ta cảm thấy dễ bực bội, dễ xa tránh họ. Hoặc nếu gần, thì sẽ dễ mắng nhiếc họ, kết án họ, trút lên đầu họ những giận dữ, khinh khi.

Nhưng, bên cạnh những kinh nghiệm loại trừ đó cũng có những kinh nghiệm về những tấm lòng nhân hậu đầy tình xót thương. Họ cầu nguyện rất nhiều, đền tạ rất nhiều, đau khổ rất nhiều cho tội nhân, kèm với những lời khuyên tế nhị, đầy yêu thương. Chính sự khiêm nhường đó đã có sức thiêng cứu những người tội lỗi khỏi mặc cảm và thất vọng, đưa họ vào niềm vui, chứa chan hy vọng.

Riêng đối với tôi, tôi đã gặp được Chúa trong những tình yêu nhân hậu đầy khiêm tốn đó.

Lạy Chúa, nhờ Con Chúa hạ mình xuống, Chúa đã nâng đỡ loài người sa ngã lên” (Lời nguyện Nhập lễ, CN XIV TN), này con đây là kẻ sa ngã, xin thương xót con. Tình yêu khiêm nhường của Chúa Giêsu luôn là sức cứu độ con, luôn là chốn con nương tựa, luôn là trường học của con, luôn là sự sống dẫn đưa con về cõi trường sinh muôn đời.




+ Gm. G.B. Bùi Tuần

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011

MẦU NHIỆM SỰ SỐNG

MẦU NHIỆM SỰ SỐNG



Nhân loại tái sinh khi một Evà mới là Ðức Maria xuất hiện. Qua những Mầu nhiệm Mân Côi, Mẹ dẫn đưa tín hữu ngày càng đi sâu vào một sự sống huyền nhiệm mới, đó là Ðức Giêsu Kitô. Càng thấu hiểu huyền nhiệm sư sống, họ càng tìm thấy giá trị và ý nghĩa đích thực của cuộc đời. Hơn nữa, bước theo Mẹ, họ sẽ không bao giờ phải lo sợ, vì dưới danh hiệu “Thánh Mẫu Thiên Chúa (Theotokos), người tín hữu tìm được nơi trú ẩn nhờ biết cầu nguyện trong cơn nguy khốn”.[1]
Trên trần gian, Mẹ rất lo lắng ơn cứu độ cho mỗi người. Nhưng làm sao có thể được cứu độ, nếu không biết sự thật là Ðức Giêsu Kitô, Ðấng giải thoát nhân loại? Thực tế, chỉ có Mẹ mới dạy chúng ta biết rõ sự thật về Chúa Kitô. Bởi thế, không có Mẹ, làm sao chúng ta có thể hy vọng được cứu độ? Mẹ dạy chúng ta trong trường học tin yêu là Tràng hạt Mân Côi. Vì đã hạ sinh, dưỡng dục Con Thiên Chúa làm người, nên Mẹ sẽ chỉ vẽ cho chúng ta một con đường ngắn nhất và đúng nhất dẫn tới nguồn ơn cứu độ là Ðức Giêsu Kitô.
Chính Mẹ cũng là một mẫu gương sáng chói nhất cho chúng ta biết hồng ân Thiên Chúa là gì và hoạt động ra sao dưới quyền lực Thánh Linh. Trong ngày Truyền Tin và Hiện Xuống, Mẹ đã xuất sắc trong thiên chức làm Mẹ khi chiêm niệm được ý nghĩa việc Thần Khí phủ bóng và hiện xuống. Nhờ vậy, Mẹ đã nêu gương cho Giáo Hội (chúng ta) trong việc sinh dưỡng ơn Chúa Kitô trong thế giới.[2]
Bước theo Mẹ trong Mầu nhiệm Mân Côi, chúng ta sẽ cảm nghiệm và sống lại tất cả vẻ đẹp của lịch sử cứu độ.
SỰ SỐNG, MỘT HUYỀN NHIỆM
Sự sống là một huyền nhiệm phát xuất từ Thiên Chúa. Muốn khám phá sự sống, không những phải hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa, nhưng còn phải dõi theo bước chân Mẹ Maria qua các mầu nhiệm Mân côi. Chỉ có Mẹ mới giúp chúng ta thấy và trân quý tất cả vẻ đẹp huyền nhiệm trong công cuộc tạo dựng và cứu độ. Vì thế, ĐGH Gioan Phaolô II mới dám sống với tâm tình phó thác: “Mọi sự của con là của Mẹ”.
Mẹ đề cao những giá trị của Sự Sống Thiên Chúa. Mẹ hết sức quý trọng sự sống con người cũng như vạn vật. Sự sống đó bắt đầu từ khi Thiên Chúa tạo dựng để chiếu toả vinh quang ra vũ trụ. Càng suy gẫm, Mẹ càng thấy sự sống kỳ diệu, nhất là sự sống con người được Thiên Chúa chăm lo đặc biệt. Nếu không, Thiên Chúa đã không chọn một dân riêng để ban lời hứa và lề luật. Hơn nữa, Người còn sai các ngôn sứ đến chuẩn bị cho dân của Người đón nhận ơn cứu độ. Nếu sự sống không có giá trị, tại sao Thiên Chúa phải lo bảo vệ và phát triển như thế?
Trong mầu nhiệm cứu độ, Thiên Chúa dành lại sự sống cho con người. Đó cũng là cơ hội con người cộng tác với Thiên Chúa để dành lại sự sống cho chính mình. Sự sống có một giá trị khôn sánh và vô cùng cao cả. Chỉ Thiên Chúa mới có thể tạo dựng và giành lại sự sống cho con người. Sự sống vừa là một hồng ân vĩ đại nhất vừa là một thách đố lớn nhất đối với con người.
Hơn lúc nào, ngày nay cuộc khủng hoảng về sự sống đang đe doạ nhân loại. Các phong trào phá thai, đồng tính luyến ái, nhân bản con người, ly dị, xâm phạm nhân quyền là những tệ nạn đang làm nhức nhối và đục khoét lương tâm con người. Cần phải có những nỗ lực lớn lao mới có thể giành lại sự sống và những giá trị sự sống cho con người. Suy niệm theo MẦU NHIỆM SỰ SỐNG là góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh cho sự sống.
Mầu nhiệm Mân Côi là con đường dẫn Kitô hữu đi sâu vào tình yêu Thiên Chúa. Qua những nẻo đường huyền nhiệm đó, Thiên Chúa sẽ mạc khải Mẹ Maria như người cộng tác chính yếu với Chúa Giêsu trong chương trình cứu chuộc nhân loại. Đồng thời qua đó Chúa cũng cho con người những phương tiện hữu hiệu để đạt được cứu rỗi cho chính mình và cho đồng loại. Chính vì thế, khi ban hành Ba Mệnh Lệnh Fatima, Mẹ Maria muốn mọi người lần hạt Mân côi để cứu vãn nền hoà bình thế giới.
Khi nghe tin Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II lập thêm một mầu nhiệm vào Kinh Mân Côi truyền thống, nhiều người tưởng đó là MẦU NHIỆM SỰ SỐNG, một chủ đề đã ảnh hưởng sâu đậm và chi phối suốt đời ngài. Thực tế, ngài đã công bố MU NHIỆN SỰ SÁNG. Mầu nhiệm Sự Sáng thật là quan trọng và cần thiết cho những người muốn chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa qua các mầu nhiệm cứu độ được thể hiện trong thời gian ChúaGiêsutruyền đạo. Hơn nữa, mầu nhiệm đó kết thúc bằng sự kiện Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể như cao điểm của tất cả các mầu nhiệm. Thật là tuyệt vời!
Như thế, Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã có công làm phong phú Mầu nhiệm Mân Côi truyền thống. Thế nhưng, tất cả các mầu nhiệm đó đều nằm trong bối cảnh Tân Ước. Phải chăng mầu nhiệm cứu độ chỉ giới hạn trong Tân Ước? Thưa không. Thiết tưởng có trở về nguồn Cựu ước, mới khám phá được tất cả chiều kích tình yêu Thiên Chúa trong công cuộc tạo dựng và cứu độ.


[1]Hiến chế Tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 66.
[2] x. Encyclopedia of Cathlolic Doctirine, ed. Russell Shaw, Mary, Mother of the Church, F. M. Jelly, O.P.

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Nguồn: Đaminh VN

HÌNH AI ĐÂY?

HÌNH AI ĐÂY?



Khi thấy Chúa Giê-su làm nhiều phép lạ, chữa khỏi bệnh cho nhiều người, được dân chúng tung hô và đi theo rất đông, nhóm người Pha-ri-sêu quyết định tiêu diệt Người cho bằng được. Để có thể thực hiện âm mưu đó, họ đã nghĩ ra nhiều cách, mà một trong những cách đó là gài bẫy Người. Đã từng có chuyện gài bẫy Đức Giê-su về việc ném đá người đàn bà ngoại tình (Ga 8, 2-11). Họ nói với Người: "Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?". Họ nghĩ rằng với câu hỏi của họ, trả lời cách nào thì Đức Giê-su cũng dính trấu. Trả lời là cứ ném đá người phụ nữ thì mâu thuẫn, đi ngược với lời dạy của chính Người là phải yêu mến, tha thứ cho nhau kể cả kẻ thù của mình; không những thế, còn phạm luật Rô-ma (It-ra-el đang bị đế quốc Rô-ma đô hộ, chỉ những người đại diện cho luật pháp Rô-ma – như tổng trấn Phi-la-tô, chẳng hạn – mới được quyền kết án tử hình). Còn nếu tha, thì lại phạm luật truyền thống của It-ra-en là luật Mô-sê. Đằng nào cũng kẹt! Trong bài Tin Mừng hôm nay (Mt 22, 15-21), nhóm người Pha-ri-sêu lại một lần nữa gài bẫy Đức Ki-tô bằng cách chất vấn Người về việc nộp thuế cho Xê-da. Nếu Người trả lời là nên nộp thuế thì sẽ bị họ kết án là ôm chân ngoại bang, quay lại làm hại dân tộc mình. Còn nếu bảo không, thì lại vướng vào tội chống đối chính quyền bảo hộ. Chỉ cần Đức Ki-tô trả lời là họ có cớ “xử” Người ngay.
Cả 2 lần, Đức Giê-su đều biết rõ tận tim đen bọn người Pha-ri-sêu chỉ muốn gài bẫy để có cớ làm tội Người, nhưng cả hai lần chúng đều thất bại thảm hại, tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, bỏ đi một nước. Lần trước, khi nghe Đức Ki-tô nói: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi", thì: "Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi " (Ga 8, 8-9). Còn lần này, khi nghe Đức Ki-tô nói "của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa", thì: “Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để Người lại đó mà đi” (Mt 22, 22). Ấy cũng bởi vì "Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình!” (Mt 22, 19). Điều này chứng tỏ bọn người Pha-ri-sêu cũng chẳng khác gì Xa-tan cám dỗ Chúa trong sa mạc, bị Người quở mắng: "Đã có lời rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi"(Lc 4, 12).
Tuy nhiên, lần này, ngoài việc khiến bọn Pha-ri-sêu thất bại nhục nhã, Đức Ki-tô còn muốn gửi đến tất cả mọi người (từ những kẻ chưa tin đến những người đã tin tưởng vào Người, kể cả những kẻ chống đối) một thông điệp: Hãy sống trọn hảo bổn phận của một công dân nước trần thế (đối với thế quyền), đồng thời với bổn phận công dân Nước Trời (thần quyền). Người không chỉ dạy bảo, khuyên nhủ, mà còn làm gương trong suốt cuộc sống tại trần gian, như việc nộp thuế đền thờ, Người đã dạy thánh Phê-rô: “Nhưng để khỏi làm gai mắt họ, anh ra biển thả câu; con cá nào câu được trước hết, thì bắt lấy, mở miệng nó ra: anh sẽ thấy một đồng tiền bốn quan; anh lấy đồng tiền ấy, nộp thuế cho họ, phần của Thầy và phần của anh" (Mt 17, 27). "Của Xê-da, trả về Xê-da” là vậy đó, và chính những điều này đã khiến Phi-la-tô khi luận án đã phải thốt lên đến lần thứ ba: "Nhưng ông ấy đã làm điều gì gian ác? Ta xét thấy ông ấy không có tội gì đáng chết"(Lc 23, 22), rồi rửa tay để chứng tỏ mình không kết án người vô tội, và trao trả lại cho đám quan quyền Do thái xử án Đức Ki-tô.
Cứ kể với đám người Pha-ri-sêu, trả lời họ "của Xê-da, trả về Xê-da” đã là quá đủ; nhưng Đức Ki-tô còn đi xa hơn, sâu hơn, bởi ngoài đám người muốn thử thách Chúa, còn có những người khác là những môn đệ cùng với những kẻ tin và đi theo Người. Vì thế, Người tiếp tục dạy: “của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Của ai thì trả về cho người đó – rất công bằng và chí lý! Người Ki-tô hữu ngày hôm nay cùng lúc mang trên vai hai bổn phận: bổn phận công dân nước trần thế + bổn phận công dân Nưới Trời, thì phải khắc ghi trong tâm khảm châm ngôn sống "Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Chúa không dạy ta hãy lánh xa đời, mà hãy sống Đạo giữa đời. Sống làm sao cho tốt Đạo đẹp đời mới thực sự đẹp lòng Thiên Chúa. Những ai sống được như vậy thì “Nước Trời là của họ”, tất nhiên.
Còn một điều rất lỳ thú mà kẻ viết bài này rất tâm đắc: Đó là câu Đức Ki-tô hỏi đám người Pha-ri-sêu khi Người đòi xem đồng tiền nộp thuế: “Hình ai đây?” Vào thời điểm câu hỏi ấy xuất phát, thì chỉ nhằm mục đích dồn đối phương vào chân tường; nhưng với chúng ta ở thế kỷ XXI này, đặt giả thử có ai đó cũng hỏi như vậy, thì chúng ta trả lời sao đây? Có hai trường hợp xảy ra: Nếu “ai đó” chỉ vào những ảnh tượng chúng ta mang trên ngực mà hỏi, thì câu trả lời thật dễ dàng: “Hình Thiên Chúa”. Tuy nhiên, ngày nay ít người còn có thói quen tốt mang ảnh tượng Chúa trên người, và trường hợp thứ hai sẽ xảy ra, nếu “ai đó” cắc cớ chỉ vào mặt chúng ta mà hỏi “Hình ảnh ai đây?”, liệu chúng ta có trả lời suông sẻ không, hay lại cho “ai đó” là người “mát điện”? Đừng vội kết án người ta là “mát điện”, bởi có khi chính “ai đó” là lương tâm của chúng ta (mà lương tâm lại là nơi Thiên Chúa hiện dịên), vậy có khác chi là Thiên Chúa đang hỏi chúng ta như xưa Người hỏi đám người Pha-ri-sêu. Hoá cho nên, muốn trả lời được khi bị cật vấn: "Hình và danh hiệu này là của ai đây?", xin hãy nhớ lại Thiên Chúa dựng nên con người “giống hình ảnh Người” và khi chịu phép Thánh Tẩy còn được mang danh hiệu Ki-tô hữu nữa.
Vâng, thật rõ ràng là "Hình ảnh và danh hiệu của Thiên Chúa" đã được đóng ấn trên thân xác mỗi con người Ki-tô hữu. Vậy thì vấn đề bảo dưỡng thân xác cùng với cuộc sống ở trần gian chẳng phải là “của trần thế trả về trần thế” đó sao? Còn “Hình ảnh và danh hiệu Ki-tô hữu” là “của Thiên Chúa (thì hãy) trả về Thiên Chúa”. Nói tóm lại, mỗi Ki-tô hữu mỗi ngày hãy nhìn lại mình mà tự vấn: "Hình ảnh và danh hiệu này là của ai đây?", để từ đó bảo dưỡng thân xác khoẻ mạnh, hầu sống cho xứng đáng với danh hiệu Ki-tô hữu gắn trên hình ảnh của Thiên Chúa (là chính cái thân xác cần bảo dưỡng ấy). Chỉ có như thế mới thực sự là đã thực hành Lời Chúa dạy "của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". Tóm lại, hãy sống tốt đời đẹp Đạo, hay nói cách khác, hãy chu toàn cùng lúc bổn phận công dân nước trần thế và bổn phận công dân Nước Trời. Ước được như vậy. Amen.




JM. Lam Thy ĐVD.

Trả Cho Caesar - Trả Cho Thiên Chúa

Trả Cho Caesar - Trả Cho Thiên Chúa
(CN 29 TN, Năm A)






Bấy giờ Người bảo họ rằng: "Vậy, cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa". (Mt 22, 15-21).


Vâng quả là Lời của Chúa thì không sai chạy vào đâu cho được. Chúa dậy chúng ta sống ở trên đời phải có tinh thần biết đóng góp bằng cách góp công, góp của, và góp những gì, giúp ích cho xã hội và cho tha nhân. Đó là của Caesar thì hãy trả cho Caesar, ý nghĩa của Chúa Giêsu là muốn dậy chúng ta như vậy khi còn sống trên trần gian này! Ý nghĩa của sự đóng góp của nộp thuế là giúp cho Vua, chính phủ, hay chính quyền của một quốc gia có thêm nguồn lợi để làm cho đất nước thêm hùng mạnh thêm phong phú. Giúp cuộc sống của con người ngày càng văn minh hơn và tiến xa tiến rộng hơn để giúp thăng hoa cuộc sống của con người. Cuộc sống văn minh cũng giúp rất nhiều cho xã hội có thêm công ăn việc làm và công việc cũng đỡ phải nguy hiểm hơn, vì con người ngày càng có khả năng để chế biến thêm nhiều những máy móc để con người tránh được nhiều tai nạn!? Cuộc sống nơi trần gian thì có phải chúng ta không sống chỉ có một mình mà chúng ta còn có thật nhiều anh chị em ở khắp mọi nơi trên toàn địa cầu không? Vậy thì chúng ta là một cá nhân, là một gia đình, là một cộng đoàn, là một ấp, một xã, một tỉnh, một tổ quốc, có cần và phải có bổn phận để trả cho nhau những gì mà tất cả cùng góp công góp sức để có một cuộc sống khả quan hơn và tốt đẹp hơn không? Cần lắm chứ thưa phải không?

Vậy thì nếu một cá nhân không có trách nhiệm và làm tròn bổn phận của mình, nơi mình cư ngụ, tại nơi công sở, cho cộng đoàn, và cho những người chung quanh, thì cá nhân ấy có những ảnh hưởng ít nhiều như thế nào cho xã hội?

Rồi thì trong một gia đình, từng phần tử trong nhà mà không ai có tinh thần đóng góp, giúp đỡ, thông cảm, đỡ đần, và thăm hỏi nhau, và ai cũng sống ích kỷ chỉ muốn mình được đứng riêng rẽ một mình, không ai muốn có trách nhiệm với ai, thì thử hỏi gia đình ấy tương lai có còn được hạnh phúc với nhau hay không?

Còn khi ta gia nhập vào đoàn thể của một cộng đoàn cũng thế, nếu tất cả ai ai cũng muốn mình làm lớn, có một chức vụ rõ ràng, một là tôi được bầu làm chủ tịch, còn hai chí ít là phải được làm phó chủ tịch, hay cũng được làm thư ký, trưởng nội vụ, trưởng ngoại vụ, v.v.... chứ không thì tôi sẽ không muốn gia nhập vào một đoàn thể nào cả! Nếu thế thì tất cả những hội đoàn chỉ toàn là ban điều hành chứ không bao giờ có hội viên, và nếu là thành phần hội viên thì hình như lời phát biểu của tôi không được nghe. Vậy tôi vào đoàn thể là để mong ước được điều gì? Nếu ngay chính tôi đã từ đầu không có tinh thần tích cực đóng góp và chỉ mong tìm lợi ích cá nhân cho tôi mà thôi! Một cộng đoàn mà có nhiều thành phần như thế thì thử hỏi cộng đoàn ấy sẽ sống được bao lâu? Nếu chúng ta không biết trả cho nhau những gì mình lấy của nhau?

Như tất cả những ai sống trên đất nước Hoa Kỳ thì đều hiểu rằng tiền thuế ta đóng góp trong mỗi cái check lương hằng 2 tuần hay 1 tháng là cho những gì khi về già ta được hưởng tiền hưu trí và là đang đóng góp những gì giúp ích cho xã hội bây giờ. Tiền thuế tất cả chúng ta có đóng góp, một phần giúp vào trợ cấp cho những gia đình nghèo lợi tức dưới mức trung bình. Giúp trả cho họ tiền nhà, tiền chợ, bảo hiểm sức khoẻ, nuôi con nít đi học ăn không tốn tiền. Giúp cho người già nghèo trên 65 tuổi có tiền hằng tháng, ở không tốn tiền, bảo hiểm sức khoẻ, có nơi nuôi cho ăn sáng ăn trưa. Và còn rất nhiều những dịch vụ khác mà tôi không biết đến. Đường xá được tu sửa khi bị nứt nẻ và ổ gà quá nhiều .... Còn những ai có mua nhà và hằng năm phải đóng thuế nhà thì chúng ta cũng có quyền được hưởng những cái công viên để đem gia đình đến đó chơi cuối tuần, hoặc cần đến thư viện để tìm sách về đọc mà không tốn tiền.

Vậy thì nếu tôi là một công dân, một người cha, mẹ, chồng, vợ, con, ông, bà, học sinh, thầy giáo, cô giáo, công nhân, hiệu trưởng, bác sĩ, luật sư, kỹ sư, các chuyên gia, các linh mục, các sơ, tu sĩ nam nữ, v.v.... tôi phải có bổn phận và trách nhiệm gì để đóng góp cho gia đình tôi, cho xã hội, quốc gia, và cho tất cả anh chị em tôi, để tôi được góp phần vào sự chung xây gầy dựng một thế giới tốt lành và hạnh phúc hơn.

Ước mong sao tôi và anh chị em, chúng ta luôn luôn siêng năng đọc, nghe, và thấm nhuần Lời của Chúa, để chúng ta thực thi những Lời dậy báu bổ của Ngài, làm cho cuộc đời của chính chúng ta luôn thăng hoa, tốt lành, và tốt đẹp. Cuộc sống hằng ngày của chúng ta sẽ được vui hơn, trẻ hơn, an bình hơn, và hạnh phúc hơn, vì chúng ta luôn có sự quan tâm cho nhau. Để Lời của Chúa không bị mai một và Ngài cũng không thất vọng trên con cái của Ngài là hãy trả cho nhau những gì chúng ta thuộc về nhau. Bởi nơi đâu có sự hợp quần, hiệp nhất, và thống nhất thì nơi đó sẽ có thêm sức mạnh. Do đó một cây thì chẳng nên non nhưng ba cây chụm lại nên hòn núi cao, và Lời của Chúa giêsu hôm nay là của Caesar thì hãy trả lại cho Caesar có nghĩa là vậy, thưa anh chị em!

"Những gì của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa" đây mới là câu nói mà Chúa Giêsu muốn chúng ta hiểu sao theo ý của Ngài!? Bởi có gì mà chúng ta có thể trả lại cho Ngài được đây so với tình yêu thương vô bờ bến của Đức Chúa Cha khi Ngài tạo dựng nên chúng ta từ bụi đất. Ngay một hơi thở mà giả sử chúng ta phải bỏ tiền mua để được sống, chắc hẳn con người sẽ chết như rơm như rạ và chỉ những người giầu có mới còn tồn tại trên trái đất này mà thôi, nhưng cũng trong giới hạn, phải không thưa anh chị em!? Rồi thì nước uống cũng thế! Thực phẩm không quan trọng cho sự sống của chúng ta ư!? Nhiều nhiều lắm không thể nào chúng ta có thể liệt kê sao cho hết được những gì Ngài ban cho chúng ta nhưng không và tất cả đều quan trọng như nhau cho cuộc sống ngày lại ngày của chúng ta.

Lậy Thiên Chúa Toàn Năng Luôn Yêu Thương!

Biết lấy gì cảm mến? Biết lấy chi đáp đền? Hồng Ân Chúa vô bờ bến Chúa đã làm cho tất cả chúng con. Trả lại cho Chúa biết lấy gì cho tương xứng đây!? Khi Ngài yêu thương chúng con từ nguyên thủy và muôn đời. Chúng con là chi ngoài thân phận của bụi đất là một trong những tác tạo vô cùng của Ngài. Chúng con là chi mà để Chúa Cha yêu thương đến đỗi ban con một của Ngài cho trần gian. Sống một cuộc đời nghèo khổ từ khi phôi thai trong cung lòng của Đức Trinh Nữ Maria. Được sinh ra trong một hang đá và nằm nôi là máng cỏ với rơm. Lớn lên và được nuôi dưỡng bởi cha mẹ nghèo của Ngài chỉ sống bằng cái nghề thợ mộc chẳng là gì trong xã hội. Theo thời hạn định, Ngài Giêsu giã từ cha mẹ của mình lên đường rày đây mai đó để rao giảng Phúc Âm cho muôn dân biết tìm kiếm Nước Thiên Chúa và Người Cha của Ngài trên Thiên Quốc. Chính Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa, mà Ngài cũng không có nơi để gối đầu.

Sau cùng để cho chương trình của Thiên Chúa được hoàn tất, Ngài Giêsu vô tội đã bị các kỳ lão đến bắt, chịu bao nhiêu khổ nạn, và sau cùng bị chết treo trên Thập Giá vì tội lỗi của nhân loại chúng ta gây nên. Ngày thứ ba Ngài sống lại theo Lời Thánh Kinh. Ngài Lên Trời ngự bên Hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng. Ngày sau bởi Trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy, Amen.

Vâng, thưa anh chị em! Có phải chúng ta thiếu nợ Chúa đến muôn thuở muôn đời hay không, và không gì mà chúng ta làm có thể Trả cho Thiên Chúa được hết. Từ đời cha ông cho đến đời con cháu của chúng ta sau này. Có phải để làm đẹp lòng Thiên Chúa và được Nước Trời là chúng ta luôn biết sống nghe Lời Ngài và thực thi Lời của Ngài dậy trên anh chị em của chúng ta. Bởi Thiên Chúa Ngài chỉ trông đợi ở chúng ta làm được 2 điều chính yếu trong cuộc đời trần thế này mà thôi là Trước Kính Chúa trên hết mọi sự sau lại yêu người như mình ta vậy, Amen.


Y Tá Của Chúa,
Tuyết Mai

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ

Xin cứu chúng con khỏi mọi sd


Tháng 10 được gọi là Tháng Mân Côi. Tháng này, con cái Đức Mẹ hướng lòng mình về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Đặc biệt có nghĩa là yêu mến Đức Mẹ hơn, dâng lên Đức Mẹ nhiều đoá hoa Mân Côi hơn, thực thi những điều Đức Mẹ dạy một cách nhiệt tình hơn.
Riêng tháng 10 năm nay, tôi suy nghĩ nhiều hơn đến biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima. Lòng, trí tôi nhớ lại những gì Đức Mẹ đã dạy và đã làm ngày 13-10-1917. Đúng là có sự gì đáng ta phải sợ. Đúng là có sự gì đó thực sự khiến ta phải cầu xin để được cứu thoát.
Vì thế, tôi chọn cho tháng 10 năm nay của tôi một chủ đề gợi ý. Chủ đề đó là: “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”. Câu này là câu cuối của kinh Lạy Cha. Tôi thấy câu này là lời cầu rất hợp với ý Đức Mẹ trong lần Người hiện ra lần cuối ở Fatima.
Tôi xin phép được chia sẻ chọn lựa của tôi. Tôi sẽ đề cập đến 3 điểm sau đây:
- Khi cầu xin Chúa cứu chúng ta khỏi mọi sự dữ, thì sự dữ nói chung được hiểu thế nào?
- Ta xin Chúa cứu ta khỏi những sự dữ nào cách riêng?
- Ta phải cộng tác thế nào vào lời cầu xin Chúa cứu ta khỏi sự dữ?
1. Sự dữ nói chung được hiểu thế nào?
Nói chung, thế giới sự dữ rất mênh mông. Thí dụ:
a. Sự dữ trong lĩnh vực vật chất, như
đói nghèo, bệnh tật, các thiên tai, các thứ ô nhiễm môi trường, các tai nạn, các thứ chiến tranh.
b. Sự dữ trong lĩnh vực chân lý, như
Những sai lầm trong việc tiếp thu thông tin, trong cái nhìn, trong phán đoán, trong lượng giá, trong phản ứng. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm cá nhân. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm một tập thể, một nhóm, một cộng đoàn. Có những sai lầm thuộc trách nhiệm cả một bộ máy chính sách và chủ trương.
c. Sự dữ trong lĩnh vực luân lý, như: hình thức đúng là đạo đức thì lại coi là không đạo đức
Việc đúng là tội thì lại coi là không có tội. Tình hình hiện nay đang có khuynh hướng bình thường hoá tội lỗi là một sự dữ rất nguy hiểm.
d. Sự dữ trong lĩnh vực tín lý, như
Điều phải tin thì lại nghi ngờ. Điều mê tín thì lại tìm đến. Hiện tượng tin Lời Chúa một cách hời hợt như đang xảy ra ở nhiều nơi là một sự dữ rất đáng báo động.
e. Sự dữ trong lĩnh vực quỷ dữ, như
Coi thường thế giới quỷ đang rất phổ biến. Thế giới đen tối của quỷ là một hiện hữu có thực ở gần ta. Kinh Thánh cảnh báo ta điều đó. Nhưng chúng ta nhiều khi không tỉnh thức, lại còn sống thoả hiệp với chúng.
f. Sự dữ trong lĩnh vực áp lực, như
Có những áp lực đến từ bên ngoài làm ta khó giữ được tự chủ. Có những áp lực tiềm ẩn từ bên trong ta khiến ta khó sống khách quan và thanh thản.
Thoáng nhìn những sự dữ kể trên, chúng ta thấy con người của ta thường xuyên có nguy cơ bị các sự dữ tấn công. Thoát khỏi chúng là chuyện không dễ. Vì thế, ta vừa làm hết sức để cứu mình, vừa cầu xin Chúa cứu ta.
Trong các sự dữ, có một số rất đáng sợ, ta phải xin Chúa cứu ta cách riêng.
2. Mấy sự dữ ta cầu xin Chúa một cách đặc biệt để thoát khỏi
Tôi thấy có 3 sự dữ này:
a. Không thực thi thánh ý Chúa
Phúc Âm cho thấy: Suốt đời trên trần thế, Chúa Giêsu chỉ quan tâm đến việc thực thi thánh ý Chúa Cha. “Lương thực của Thầy là làm theo ý Chúa Cha” (Ga 4,34). Ở vườn cây Dầu, khi tình hình trở nên bi đát, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin Cha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, nhưng xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,41).
Biết được thánh ý Chúa và thực thi thánh ý Chúa là chuyện không dễ. Nhưng đó lại là chuyện cực kỳ quan trọng. Chúa Giêsu quả quyết: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).
Làm theo thánh ý Chúa là định hướng đầu tiên của tu đức. Không phải định hướng một lần, mà cả suốt đời. Lời Chúa và Chúa Thánh Thần sẽ soi dẫn trên thực tế. Tình hình từng lúc từng nơi, tuỳ theo từng người sẽ sáng lên thánh ý Người. Nếu không khiêm tốn đón nhận, ta sẽ đi vào những sai lầm: đó là một sự dữ khủng khiếp.
b. Mất sự sống ân sủng của Chúa và mất linh hồn
“Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống mình, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26). Lời Chúa phán trên đây thực là dứt khoát, thực là đáng sợ. Mất mạng sống mình, tức là mất sự sống ân sủng của Chúa và mất linh hồn, đó là một sự dữ không gì ví được.
c. Phải phạt đời đời trong hoả ngục
Có hoả ngục và có những người bị ném xuống đó, đây là một cảnh báo được Chúa nói nhiều lần trong Phúc Âm. Xin đọc lại dụ ngôn ông ăn mày Lazarô và nhà phú hộ (x. Lc 16,19-31). Cũng nên đọc thêm những lời Chúa phán về cuộc phán xét chung (x. Mt 25,31-45).
Ở Fatima, Đức Mẹ cũng đã cho 3 trẻ nhìn thấy cảnh hoả ngục và những ai bị phạt trong đó. Thực là rùng rợn.
Chỉ trong hồi tâm và tin vào Lời Chúa và tin sự cảnh báo của Đức Mẹ, chúng ta mới thấy thấm thía: sự không thực thi ý Chúa, sự mất đời sống ân sủng và mất linh hồn, sự sa hoả ngục là những sự dữ ghê gớm. Ta phải xin Chúa cứu thoát ta. Ta phải cầu nguyện và cũng phải cộng tác vào lời cầu nguyện: “Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”.
3. Cộng tác vào lời cầu nguyện “xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”
Phải cộng tác ít ra bằng những việc này:
a. Khiêm nhường và biết sợ
Tu đức thường khuyên chúng ta nên luôn có thái độ khiêm tốn, nhận mình yếu đuối, hèn mọn. Khả năng sai lầm nơi ta là rất lớn. Thái độ kiêu căng, cố chấp nơi ta không hoàn toàn dễ khống chế. Lịch sử cho ta thấy có những liều lĩnh tự đắc đã đưa tới một chuỗi dài tai hoạ rất đáng tiếc.
b. Đền tạ về những gì đã và đang sai phạm
Đền tạ bằng những việc hy sinh, phục vụ, yêu thương trong phạm vi Chúa đòi hỏi. Hiện nay, tình trạng bất ổn đang xảy ra phổ biến trong từng cá nhân, trong từng gia đình, trong từng cộng đoàn, trong từng địa phương. Nếu chúng ta biết lắng nghe ý Chúa, biết dấn thân vào việc làm cho những tình hình đó bớt bất ổn theo ý Chúa, thì thiết tưởng đó cũng là những việc đền tạ đẹp lòng Chúa.
c. Hết lòng cậy tin vào lòng thương xót Chúa và trái tim nhân từ của Mẹ
Sống như trẻ thơ. Nhìn lên Mẹ với tất cả tâm tình khiêm tốn, đơn sơ, tin cậy.
Lạy Mẹ Maria, sự hiểu biết của Mẹ thực là sâu xa. Tình thương của Mẹ thực là bao la. Mẹ biết con và hoàn cảnh của con hơn chính con. Mẹ nhìn rõ đâu là những sự dữ gây nguy hại cho con nhất là về phần hồn. Xin Mẹ thương ở bên con. Xin Mẹ cầu bầu với Chúa cứu con khỏi mọi sự dữ, nhất là những sự dữ hiểm nghèo cho phần rỗi. Con xin phó thác mình con cho trái tim Mẹ. Xin gìn giữ con trong tình thương của Mẹ mãi mãi muôn đời. Amen.


+ Gm. G.B. Bùi Tuần

KẺ LÀM CÔNG

KẺ LÀM CÔNG


Có nhiều câu chuyện, nhiều dụ ngôn Đức Giêsu dùng để nói về mầu nhiệm cứu độ. Đến với con người, sống với con người và hy sinh chết cho con người thật đấy nhưng không phải là chuyện dễ dàng để được nhân loại đón nhận. Để thế giới có thể tin yêu, tôn thờ không phải Thiên Chúa cứ yêu là được. Có ai yêu con người hơn Thiên Chúa? Có ai sống cho con người hơn Thiên Chúa và hy sinh chết đi vì họ, vậy mà tình yêu cao cả vĩ đại ấy có phải được tất cả đón nhận đâu.
Có nhiều lý do con người từ chối Thiên Chúa. Tựu trung đều hệ tại bởi tham vọng vật chất. Thế giới mà Thiên Chúa thiết lập là thế giới của tình yêu thương. Con người khao khát thương yêu nhưng lại chối từ bước vào thế giới yêu thương. Vì chưng, chỉ những ai có tình yêu thương mới có thể sống thương yêu.
Tình yêu thương, một cụm từ xem thường rất đỗi gần gũi và quen thuộc trên môi miệng nhân loại nhưng thực tế rất khó thực hiện. Để thương yêu, người ta phải đánh đổi, phải chấp nhận mất mát, thiệt thòi và đó là điều chẳng phải ai cũng muốn, cũng làm được. Lý thuyết chẳng ai lại không biết, mà thực hành thì hỡi ơi!
Trần gian được ví như vườn nho Thiên Chúa gieo trồng. Ngài đã trao phó cho những người Ngài tín nhiệm bổn phận coi sóc, chăm bón. Thế lực sự ác, kẻ thù và bóng tối tội lỗi đã tìm mọi cách phá hủy, tiêu diệt. Đưa con người vào thế giới, Thiên Chúa cho họ thời gian để nhận biết và yêu mến Ngài. Thế nhưng, nhân loại thường rủ nhau đi tìm sự tiêu diệt, xa rời Thiên Chúa. Không những từ chối, họ còn tìm mọi cách loại bỏ Ngài.
Tại sao Đấng cứu độ đến với nhân loại nhưng không được đón nhận. Tại sao người của Thiên Chúa phải trả giá đắt cho việc loan truyền ơn cứu độ. Đó là một vấn nạn đau đầu của Giáo Hội.

Nhìn lại lịch sử Giáo hội, chẳng khó để nhận ra hành trình thăng trầm của dòng thời gian cứu độ. Muốn thế giới nhận biết Thiên Chúa, đã có biết bao con người quả cảm hy sinh thân mình minh chứng tình yêu cứu độ. Ngay chính Con Một Thiên Chúa cũng bị giết chết, chỉ vì muốn mang lại hạnh phúc cho nhân loại.
Dụ ngôn hôm nay, Đức Giêsu mặc khải cho biết ý định của Thiên Chúa, ơn cứu độ không chỉ dành riêng do dân tộc Do Thái, một dân tộc được chọn làm dân riêng của Ngài, nhưng là cho tất cả những ai thành tâm đón nhận Nước Trời: “Nước Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” ( Mt 21, 43).
Ơn cứu độ không của riêng ai. Con người tự ỷ vào những tri thức, quan niệm, tập tục truyền thống để rồi cố chấp, chai lỳ, không mở lòng đón nhận. Thiên Chúa ban chính Con Một Ngài đến thế gian nói về Thiên Chúa, sống lời Thiên Chúa, minh chứng tình yêu Thiên Chúa nhưng vẫn không được đáp trả. Nguyên nhân sự từ khước đó đều xuất phát từ quyền lực của sự dữ. Con người đánh đổi Thiên Chúa bằng các giá trị vật chất tầm thường, thế nên họ sẵn sàng loại bỏ ơn cứu độ ra khỏi nhu cầu cuộc sống, đặt danh vọng, tiền tài lên vị trí ưu việt.
Ơn cứu độ ở đâu trong cuộc sống con người ngày nay? Liệu Đức Kytô đã được đón nhận hay vẫn tiếp tục bị lọt ra khỏi thế giới? Nếu nhu cầu vật chất chiếm vị trí tối ưu trong đời sống nhân loại, thì chắc chắn Thiên Chúa không còn chỗ đứng. Chẳng vậy mà tội ác xảy ra nhan nhản hằng ngày trên thế giới, không còn nữa rồi những giá trị đạo đức luân thường, bóng tối của quyền lực và tội ác đang dần dần chiếm ngự toàn cầu.
Nước trời thuộc về những ai biết qui phục Thiên Chúa, tin và đón nhận Lời hằng sống của Con Một Ngài. Chấp nhận được Thiên Chúa yêu thương, gọt tỉa, chăm sóc, nhân loại góp phần trổ sinh ơn cứu độ lan tràn thế giới.

Lạy Chúa, yêu thương nhân loại, Ngài đã ban chính Con Một đến mặc khải mầu nhiệm Nước trời hầu con người được đón nhận ơn cứu độ. Thế nhưng, tự bản chất tội lỗi, yếu đuối, nuông chiều theo điều bất chính, thế giới đã từ khước nguồn sự sống. Xin giúp con biết mở lòng lắng nghe Lời Chúa và mau mắn thi hành. Xin đừng để con tham mê danh vọng bạc tiền mà đánh mất mầu nhiệm sự sống. Xin giúp con hiểu rằng loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống chính là đẩy mình xuống hố vực thẳm tiêu diệt. Xin mở lòng con, tâm trí con, xin mở rộng đôi tay con, giúp con ý thức mình đang được Thiên Chúa sai vào đời, trở nên kẻ làm công, ăn mày ơn cứu độ trong vườn nho nhân loại.



M. Hoàng Thị Thùy Trang.

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

NIỀM TIN VÀO ĐỨC GIÊSU

NIỀM TIN VÀO ĐỨC GIÊSU



Người thu thuế và gái điếm vào Nước Trời trước các ông”.
Lời nói của Đức Giêsu như một trái bom nổ trước mặt các thượng tế, kinh sư và pharisêu, những người đáng kính vì đạo đức và học thức, những người đáng trọng vì chức vụ.
Làm sao những người hư hỏng và tội lỗi lại có thể qua mặt các bậc đáng kính như vậy? Đức Giêsu đã soi sáng cho ta bằng dụ ngôn “Hai Người con” trong Tin Mừng Chúa Nhật 26 TN:
Người cha sai hai đứa con đi làm vườn nho. Đứa con thứ nhận lời, nhưng sau lại không đi. Đứa con cả từ chối, sau hối hận nên lại đi.
Con thứ tượng trưng cho các nhà lãnh đạo Do Thái giáo. Họ tuyên bố mình sống nghiêm chỉnh theo Lề Luật. Tiếc thay chính sự đạo đức của họ lại làm cho họ tự mãn và khép kín đến nỗi không thể tin vào Đức Giêsu và đón lấy Ngài như quà tặng bất ngờ của Thiên Chúa.
Đứa con cả tượng trưng cho những người tội lỗi, những người bị đặt bên lề xã hội và tôn giáo. Đời sống của họ là một sự nhơ nhuốc đáng buồn. Nhưng chính tội lỗi đã làm cho họ khiêm tốn và dễ dàng hoán cải trước lời mời gọi của Gioan. Rốt cuộc, họ lại là những người tin vào Đức Giêsu và gặp được ơn cứu độ trước nhiều người khác.
Đi làm hay không đi làm vườn nho đồng nghĩa với tin hay không tin vào Đức Giêsu. Niềm tin có khả năng biến đổi cuộc sống. Niềm tin thực sự luôn chuyển thành hành động. Tin là một việc làm, một dấn thân nghiêm túc. Niềm tin vào Đức Giêsu đòi hỏi một sự hoán cải và từ bỏ. Kitô giáo là tôn giáo của niềm tin.
Niềm tin bên trong phải được biểu lộ ra bên ngoài: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Niềm tin không phải chỉ là một tuyên xưng ngoài miệng nhưng là một tuyên xưng bằng cuộc sống: “Không phải mọi kẻ nói với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ làm theo ý Cha Thầy” (Mt 7,21).
***
Lạy Chúa! Xin gia tăng niềm tin trong lòng con, để niềm tin vào Đức Giêsu hoán cải và biến đổi đời con được trở nên giống Chúa mỗi ngày mỗi hơn. Amen.


Nguồn: Trích trong “Manna''

Lời kinh để sống

Lời kinh đsống


Chàng sinh viên nọ nói với Louis Paster - Viện trưởng Viện Hàn lâm Pháp: Bây giờ là thời đại nào rồi mà còn lẩm bẩm lần chuỗi! Có lẽ nhiều người trẻ cũng thốt ra dưới những dạng khác: lần chuỗi chỉ dành cho những người ít học, những ông bà già rảnh rang, lẩm cẩm, còn chúng ta… chính câu nói này một lần nữa lại chất vấn chúng ta về việc đọc kinh Mân Côi. Dầu vậy, bình tâm suy xét sẽ thấy kinh Mân Côi vốn rất nhiệm lạ.



1. Kinh giáo dục


Tính giáo dục của kinh Mân Côi, trước tiên hệ tại kinh Lạy Cha. Đó là lời kinh của cộng đoàn. Cho dù đọc chung hay riêng chúng ta vẫn đọc: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, “chúng con nguyện danh Cha cả sáng”, “xin tha tội chúng con”,...; hay nơi kinh Kính Mừng: “… cầu cho chúng con”, tức đọc với tư cách cộng đoàn. Ngoài ra, chúng ta nhận thấy không thể đọc kinh Mân Côi mà không thể đặt trong sự liên đới với người khác. Điều này nhận thấy rõ nét nhất trong kinh Lạy Cha khi đọc: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho kẻ có lỗi với chúng con”. Như vậy, mọi lời nguyện xin trong kinh Mân Côi đều mang tính cộng đoàn và có tính chất liên đới với hết thảy mọi người, lời cầu nguyện không chỉ cho riêng tôi mà cho bất kể ai cần đến, có sức lay động tất cả mọi người.


Bên cạnh đó, khi dừng lại suy niệm từng mầu nhiệm cuộc đời Chúa Cứu Thế, chúng ta bắt gặp những lời cầu xin mang đầy nhân bản: ta hãy xin cho được ở khiêm nhường, ta hãy xin cho được lòng yêu người, ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng chúa luôn, trách mình vì tội đã thường phạm liên, cho con lòng vững đá vàng, con về giữ vẹn đạo thần hôn[1]… Suy cho cùng, đó là các đức tính thật thà, trung thực, khiêm nhường, cương nghị…, tất cả là những đức tính để xây dựng một con người nhân bản. Đặc biệt câu “con về giữ vẹn đạo thần hôn”[2] gây ấn tượng mạnh, đáng lưu tâm và ghi sâu trong tâm trí tôi nhất. Đó chính là đạo làm người. Đạo làm người khởi đi từ đâu?


Đạo làm người trước tiên khởi đi từ gia đình. Đức Giêsu lại là mẫu mực trong chuyện này nên chúng ta không thể nào không nhớ đến. Đạo thần hôn ở đây có thể hiểu là từ sớm tới tối, nhưng thực ra nó là “sớm tối cuộc đời”. Điều này đã được tin mừng thánh Luca ghi lại sau khi Thánh Giuse và Đức Mẹ tìm thấy Chúa trong đền thờ:


Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazareth và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta”. [3]


Những điều trên giúp tôi hiểu tại sao ở Việt Nam có truyền thống đọc kinh Mân Côi chung trong gia đình vào mỗi tối. Và tôi nhận thấy, nơi những gia đình đó thường bình an và hạnh phúc hơn các gia đình khác. Cũng chính những điều đó cho tôi thấy sức chữa lành của kinh Mân Côi.


2. Kinh chữa lành



Khả năng chữa lành của kinh Mân Côi trước tiên có thể nhận thấy ngay trong kinh Lạy Cha khi đọc: “Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho kẻ có lỗi với chúng con”. Quả tuyệt vời, có nhà tâm lý nào bằng Giêsu! Tôi thật vui mừng vì bắt đầu niệm kinh Mân Côi bằng lời kinh của Thầy. Lời kinh thật đơn giản, dễ đọc, dễ đi vào lòng người. Khi ta khuyên lơn ai đó, chắc gì họ đã hiểu, nhưng lời kinh này bất cứ ai cũng có thể hiểu, không kể học thức thế nào. Mỗi ngày, khi đọc đi đọc lại kinh này, lời kinh cứ vậy thấm sâu trong lòng người đọc cho dù họ hiểu hay không. Nội điều đó đã thể hiện khía cạnh tâm lý sâu xa có trong lời kinh. Đến đây tôi nhớ câu chuyện thiền sau:


Chuyện kể về một vị giáo sư nổi tiếng đã đào tạo ra nhiều học trò có học vị tiến sĩ, ông thắc mắc tại sao nhiều học trò của mình hay đến thiền viện theo học thiền sư và tự hỏi ông ấy có gì hay hơn mình, giáo sư có ý không phục, muốn đến tranh tài với thiền sư về kiến thức học rộng biết nhiều của mình. Khi đến nơi, thiền sư ra tiếp, giáo sư nóng lòng đặt câu hỏi, thiền sư chậm rãi mời khách chờ ngài nấu nước pha trà, khi rót trà vào ly, thiền sư làm như vô ý, vừa rót trà vừa hỏi chuyện xã giao với giáo sư làm nước tràn đầy ly đổ ra ngoài. Khi giáo sư đặt câu hỏi, thiền sư đã ví kiến thức của giáo sư giống như một ly nước đầy, nếu có rót thêm cũng chỉ tràn ra ngoài vô ích mà thôi, phải đổ ly trà cũ đi mới có chỗ rót trà mới vào được.


Chuyện cho thấy, chúng ta không thể lấy cái mới nếu cái cũ còn đầy ắp. Cũng thế, chúng ta không thể nhận sự tha thứ, an bình nếu trong ta còn chất chứa bao hận thù, ghét ghen. Chất chứa thù hận trong lòng như ao tù không được thay nước sẽ trở nên hôi thối, ô nhiễm không ai dám đến gần. Nếu dòng nước lưu chuyển, ao sẽ trở nên trong lành, bao nhiêu điều mới, hay tốt sẽ đến và làm cho cuộc sống trở nên phong phú. Hẳn thế mà trong dân gian lưu truyền nhiều thành ngữ đáng ta lưu tâm: “giận bầm gan tím ruột”, giận “mặt đỏ tía tai”, giận tới mức “gan héo ruột đầy”[4]. Đó là những kinh nghiệm để ta nên tránh và điều đó được nhắc tới trong kinh Mân Côi. Tha thứ ở đây không đơn thuần là điều kiện để được tha thứ nhưng là điều nên và cần làm để đón nhận những gì tốt đẹp nhất và hữu ích cho sức khoẻ thể lý cũng như tâm lý mỗi người, nhất là về mặt tinh thần mình sẽ cảm thấy an bình hơn.


Khía cạnh chữa lành nữa mà tôi nhận thấy đó là những câu, những từ mang đầy tính giáo dục như đã nêu trên. Việc lặp đi lặp lại những lời mang tính giáo dục này có sức biến đổi con người một cách lạ kỳ. Nó giống như trường hợp mà ngày nay người ta áp dụng trong học ngoại ngữ: bắt trước trẻ em, mình không nên “mắc dịch”, vì như thế rất khó học. Trẻ em không dịch nghĩa chi cả, chỉ nghe, nghe mỗi ngày nhưng khi có thể là nói được ngay. Cũng vậy, lời kinh này thấm dần vào trong con người và ảnh hưởng một cách sâu xa tới cách hành xử cũng như cuộc sống của chính người đọc. Mặc dù họ đọc mà không hiểu, đọc mà không lưu tâm nhưng có thể nói lại lần nữa rằng “mưa dầm thấm lâu”.


Một khía cạnh rất mới nhưng không hẳn mới, đó là khi niệm kinh Mân Côi chính là lúc chúng ta đang tập khí công chữa bệnh – một phương pháp chữa bệnh theo phương Đông: những bệnh nhân ung thư sắp chết, khoa học bó tay, chỉ còn cậy lời cầu bầu của Mẹ, cậy nhờ vào lòng thương xót của Thiên Chúa để được sống bình an, khoẻ mạnh, chết được thanh thản nhẹ nhàng không đau đớn thân xác. Đặt niềm tin như thế thật là sáng suốt. Khi nhất tâm đọc một câu kinh cầu nguyện cùng Chúa, cùng Đức Mẹ, nhất tâm niệm một câu Kinh Thánh… là tâm đã ổn định, tinh thần vững không sợ hãi lo đến sống chết, đọc như thế vô tình ta đang tập thở khí công. Vậy thế nào là tập thở khí công?


Thật giản đơn. Chỉ cần tạo tần số thở đều đủ tiêu chuẩn của khí công: thở chậm, nhẹ, sâu, lâu, đều, bình thường, khi đọc kinh thầm không to tiếng là nhẹ, một câu niệm 6 chữ tạo hơi thở ra đều, sâu, nếu đọc 3 chữ chỉ có đều nhưng hơi thở ngắn mà không có sâu, đọc câu dài quá, thay đổi khi dài khi ngắn bất bình thường sẽ rối loạn nhịp thở làm bệnh nặng thêm, đó là lý do người bệnh không thể đọc kinh sách được mà chỉ có niệm một câu nhất định, thời gian niệm càng lâu càng tốt, nhưng không quá sức dễ gây mệt mỏi, giúp cơ thể thoải mái, bình thường, khi niệm hay khi không niệm hơi thở vẫn chậm, nhẹ, sâu, đều, gọi là bình thường. Khi niệm một câu kinh, có 2 điều lợi: vô tình đang tập thở khí công mà không biết, đó là một tự nguyện tự tạo ra khí lực, đặt niềm tin vững mạnh vào tình thương của Thiên Chúa nhờ lời cầu bầu của Đức Mẹ và các Thánh; câu niệm tạo ra từ trường phát sóng thông tin và nhận lại được sóng thông tin trong không gian vô hình giúp tinh thần tự nhiên thông minh sáng suốt khôn ngoan hơn xưa, và niệm hay đọc kinh cầu nguyện chính là đang xin ơn Chúa trợ giúp, chất quang[5] được phát huy tuyệt đối, đối với khí công, đó là lối chữa bệnh đúng, giống như cách tạo điện bằng năng lượng ánh sáng mặt trời vậy.


Kết luận



Và còn nhiều điều nữa có thể nói về sự nhiệm lạ của kinh Mân Côi, nhưng chỉ xin chia sẻ hai khía cạnh mà bản thân cảm nghiệm và thấy rất hữa ích, tự thân đã làm, đã niệm và thấy kết quả thật tốt đẹp. Mỗi người sẽ có những cảm nghiệm và những khám phá riêng khi đọc kinh này, nhưng mỗi người cũng có cách thế riêng phù hợp trong cầu nguyện và suy niệm. Xin trích dẫn phần “niệm kinh Mân Côi” trong bài “Niệm, một hình thức cầu nguyện bị lãng quên của tác giả Trần Duy Nhiên có đăng trên giaoxudatdo.conggiao.net hoặc vuisongtinyeu.org. Với ước mong mỗi người không chỉ niệm kinh Mân Côi mà còn niệm nhiều thứ khác như một câu Kinh Thánh chẳng hạn, chính việc niệm này giúp bản thân đến gần thiên Chúa hơn!


Như vậy, kinh Mân Côi vốn không phải là thứ gì quá tầm thường và lỗi thời. Nếu lỗi thời và không còn đáp ứng được cho nhu cầu tâm linh và thể lý của con người chắc chắn sẽ không có Tông thư Kinh Mân Côi để cho mọi người thấy giá trị thần học cũng như bao giá trị khác trong nó. Đó cũng là lý do các đức giáo hoàng đã hết lòng yêu mến và cổ vũ kinh này như một phương thế tỏ lòng yêu mến Mẹ và cầu cho thế giới cũng như cho từng thành viên trong nó. Ước mong mỗi người, mỗi gia đình sẽ cùng yêu mến, gẫm suy và tái khám phá giá trị của kinh Mân Côi. Lời kinh vốn có rất nhiều hấp lực nhưng cũng không ít người lãng quên!


--------------------------------
[1] x. Kinh Mân Côi và “Văn côi thập ngữ sự thi ca”, sách kinh Địa phận Bùi Chu, Thái Bình, Hải Phòng.

[2] “Con về giữ vẹn đạo thần hôn” - ngắm thứ năm mùa vui - Văn côi thập ngũ sự thi ca: một số bản đã bị sửa là “con về thảo kính tới khi khôn” không đầy đủ ý nghĩa nên nếu gặp phải xin xem cuốn kinh bổn mới của Địa phận Bùi Chu.

[3] x. Lc 2,51-52

[4] Khi mình lấy dây thắt chặt cổ tay lại một lúc thì bàn tay tím bầm. Cũng thế, gan chủ gân, và các sợi thần kinh, gan chứa máu (can tàng huyết). Khi giận dữ, các sợi thần kinh và gân cơ co rút, ống dẫn máu thắt lại, lưu lượng máu tuần hoàn ở gan không ra được bị tắc nghẽn mạch, máu không được trao đổi oxy sẽ bị bầm tím, ngay cả da mặt cũng đỏ bầm, nếu những người bị bệnh cao áp huyết chĩ cần một cơn giận giữ, gân cơ co rút làm căng mạch máu não khiến bị đứt mạch gây ra tê liệt, nặng thì hôn mê dẫn đến tử vong… (theo Lương y - Bác sĩ - Võ sư Đỗ Đức Ngọc).

[5] Theo Lương y - Bác sĩ - võ sư Đỗ Đức Ngọc.

Theo Đông y Khí công: chữa bệnh là dùng các cách thế thích hợp để chữa bệnh: cách thế đó bao gồm dùng: Tinh, Khí, Thần (theo y học truyền thống) để chữa, nét riêng theo Đông y Khí công thì còn dùng chất Điện và chất Quang để chữa, và chất Quang có thể chữa được tất cả các chứng bệnh do Tinh, Khí, Thần hay chất Điện bị ảnh hưởng. Niệm chính là cách để tạo và hấp thu chất Quang giúp tự chữa bệnh.

Xin xem thêm các tài liệu của Bác sĩ - Võ sư Trần Đại Sỹ, Nguyễn Nhất Nam tất cả các tài liệu trên đều có trên tvvn.com

Nguyễn Thanh Cao, OP

Nguồn: Đaminh VN

Cải thiện cuộc sống

Cải thiện cuộc sống
(Suy niệm Tin Mừng Matthêu (Mt 21,28-32) trích đọc vào Chúa Nhật 26 thường niên)



Đã là người thì không ai tránh khỏi lỗi lầm.
Vì mọi người đều mắc phải lầm lỗi nên bất cứ ai cũng cần phải sám hối và sửa mình. Mắc phải lầm lỗi thì không đáng lên án, nhưng thái độ ngoan cố không nhận lỗi, không ăn năn hối hận và chìm đắm trong tội là điều tai hại và rất đáng tiếc.
Thế nên, hôm nay Chúa Giê-su muốn dạy chúng ta bài học rất quan trọng giúp chúng ta ăn năn phục thiện để trở thành người tốt.

Để cụ thể hoá bài học của mình, Chúa Giê-su dùng dụ ngôn sau đây:
Một người cha có hai con. Sáng hôm ấy, ông đến với đứa con thứ nhất và bảo nó: "Nầy con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho với cha". Nó ương ngạnh trả lời: "Không! Con không đi!".

Người cha buồn lòng lặng lẽ quay sang đứa khác, mời nó ra vườn làm việc với ông. Cậu nầy dạ dạ vâng vâng: "Con sẽ đi!", nhưng rồi không thấy tăm hơi đâu cả.
Sau đó, người con thứ nhất hồi tâm lại, thấy được sai trái của mình nên hối hận vác cuốc ra đồng cùng làm với cha.

Thế là người con thứ nhất, dù ban đầu có phần ương bướng, nhưng biết xét lại, biết nhận ra lỗi mình và có quyết tâm sửa chữa nên đáng tuyên dương. Khi nói với các thượng tế và kỳ lão rằng: "Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông", Chúa Giê-su có ý chê trách những người nầy vì không biết ăn năn sửa lỗi đồng thời ngợi khen những người tội lỗi biết sám hối ăn năn sửa mình.

Chúa Giê-su còn đặc biệt tỏ lòng yêu mến đối với những người biết hối cải qua câu chuyện người cha nhân lành và đứa con phung phá. Khi người con hoang đã phá sạch cả nửa gia tài với bọn đàng điếm nhưng rồi biết hồi tâm lại, biết thống hối ăn năn và quyết tâm chỗi dậy trở về cùng cha thì người cha quên hết mọi lầm lỗi của nó, chạy ra ôm hôn nó, tiếp đón nó với tất cả tình yêu thương.
***
Vào những năm kinh tế còn khó khăn, gia đình ông Tư sắm được một chiếc xe máy Honda đời 67. Ông ra công bảo quản nó rất chu đáo; ngày ngày tỉ mỉ lau chùi từng chân căm, rồi lại dành ra cả tấm mền để trùm cả chiếc xe cho khỏi bụi. Ông cưng xe hơn cưng con, chẳng cho ai đụng đến. Nếu xe bị trầy, ông vô cùng xót xa. Nếu xe có gì trục trặc, dù rất nhẹ, ông phải đưa ra thợ sửa chữa liền. Trong khi đó, bản thân ông mang nhiều tật xấu thói hư, bị hàng xóm láng giềng chê cười xa lánh, thì ông chẳng quan tâm sửa mình.

Bản thân con người quý hơn xe cộ cả triệu lần, nhưng khi bản thân hư hỏng, xuống cấp… nhiều người không cho là quan trọng! Xe hư, máy hư thì lo sửa liền, còn người hư thì cứ để mặc. Cứ để hư cho đến chết thì thôi! Thật là điều phi lý.
Khi mặt mày chúng ta lem luốc vì lọ nghẹ hay dầu mỡ, chắc chắn ai trong chúng ta cũng vội lau rửa cho sạch sẽ ngay.
Khi thấy áo quần dơ bẩn và rách rưới, chúng ta sẽ thay áo khác liền.
Khi cơ thể chúng ta dơ dáy và bốc mùi hôi, chắc chắn chúng ta sẽ tắm rửa ngay không trì hoãn.
Vậy thì khi tâm hồn chúng ta lem luốc, dơ bẩn vì tội lỗi thói hư, lẽ nào chúng ta lại cứ để mặc như thế hết ngày nầy qua ngày khác sao?
Trong công nghệ thông tin hay sản xuất hàng tiêu dùng, việc cải tiến chất lượng sản phẩm là vấn đề sinh tử của các công ty. Châm ngôn của các nhà phát minh và chế tạo là: “Cải tiến hay là chết.” Thế nên người ta không ngừng rà soát lại những nhược điểm của sản phẩm và phải khắc phục bằng mọi giá trước khi tung ra thị trường.
Giá trị con người vượt xa giá trị hàng hoá cả triệu lần. Ước gì trong lĩnh vực đạo đức, mỗi người cũng rà soát lại những khuyết điểm của mình để cải thiện cho xứng với tầm vóc người con cái Chúa.
Nguyện xin Chúa Giê-su ban ơn giúp sức cho chúng ta thực hiện được công cuộc cải thiện tối cần thiết nầy.





Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

NÓI VÀ LÀM

NÓI VÀ LÀM



Cũng đã hơn một lần tôi nhắc tới những người hay đem thuyết đỊnh mệnh để bào chữa cho lối sống của mình. Cái gì cũng do “Trời định”, “Chúa định” hết, con người từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi bị trói chặt vào số mệnh, không còn một chút tự do. Và nếu quả thật như vậy, thì Thiên Chúa cũng chẳng cần tốn công sai Con Một xuống thế gánh lấy tội lỗi loài người (đã định cho chúng như thế thì còn cứu chuộc làm chi!) và con người hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm. Một cách chạy tội quá lý tưởng!!!
Cũng đã có những bài chia sẻ về bài Tin Mừng hôm nay (Mt 21, 28-32), cho rằng “con người ta ‘sống’ hoặc ‘chết’ hay nói cách khác là vào Nước Trời hay không, đều do Thiên Chúa quyết định”. Mới thoạt nghe lập luận này thì thấy quá đúng; nhưng suy nghĩ cho kỹ thì lại thấy như vậy thì phải chăng con người chỉ là một công cụ biểu diễn cho một trò chơi, mà người điều khiển (là Thiên Chúa) muốn quyết định sao thì tuỳ ý? Đọc bài đọc 1 (Ed 18, 25-28), vấn đề được khai thông. Vâng, nếu tất cả đều do “Trời định”, “Chúa quyết định”, thì sao lại có vụ một người công chính đi làm điều gian ác để đến nỗi phải chết? Còn kẻ gian ác thì “từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh” để “chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết” ? Cuối cùng thì chính Thiên Chúa lại nói: “Quả thật, Ta không vui thích gì về cái chết của kẻ phải chết - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. Vậy hãy trở lại và hãy sống” (Ed 18, 32).
Chúa có định cho một người công chính mà lại “theo đòi kẻ gian ác làm mọi điều ghê tởm” hay không? Hoàn toàn không, trăm ngàn lần không. Hắn đã tự ý làm vì bị mê hoặc, cám dỗ mả hắn không tự biết. Khi hắn bị hình phat, Thiên Chúa cũng chẳng vui gì, mà trái lại nữa là khác. Còn đối với kẻ gian ác, Chúa cũng chỉ khuyên bảo răn đe, hoàn toàn không ép buộc phải thế này hay thế khác. Khi kẻ gian ác hiểu ra những sai phạm của mình, sẵn sàng từ bỏ điều dữ mà thi hành điều công minh chính trực; được như vậy, nó sẽ sống, tất nhiên. Chính vì thế, nên Thiên Chúa mới mời gọi và khuyên răn: “hãy trở lại và hãy sống”. Cho nên có thể nói, con người đã tự định đoạt số phận của mình. Chẳng ai bắt anh phải làm thế này, buộc anh phải sống thế kia, tất cả đều do anh tự chọn và quyết định cho cuộc đời của mình.
Trở lại với bài Tin Mừng hôm nay nói về dụ ngôn hai người con, ai cũng thấy rõ hai người con này tự quyết định theo ý mình trước lời kêu gọi của người cha. Một người lúc đầu thì từ chối, nhưng sau đó lại vào làm, còn một người mau mắn nhận lời nhưng sau đó lại không đi. Đọc tới đây, ai cũng hiểu ngay con người sống trên đời luôn có tự do và Thiên Chúa tôn trọng sự tự do đó của con người. Chính người con thứ nhất, ai cũng nghĩ rằng anh ta sẽ không đi làm theo ý cha vì anh ta đã thẳng thắn từ chối, nhưng rồi anh lại đi. Còn người con thứ hai thì mau mắn đáp lời cha, ai chẳng cho rằng anh ta sẽ thi hành ý cha cách tốt đẹp, vậy mà rốt cuộc thì lại trốn tránh. Cá hai trường hợp đều rơi vào cảnh “ngôn hành bất nhất” (“lời nói không đi đôi với việc làm”), nhưng xét cho cùng, ai cũng hiểu ra (kể cả những bậc “thông thái” như kinh sư, thượng tế, Pha-ri-sêu thời đó) người con thứ nhất mới là người đáng để cho người khác học hỏi. Đáng lẽ Chúa Giê-su căn cứ vào câu trả lời của nhóm người này, dạy bảo họ “hãy trở lại và hãy sống”, thì Người lại nói tới bọn gái điềm và thu thuế, tưởng chừng không ăn nhập gì tới câu chuyện du ngôn.
Rõ ràng Chúa Giê-su tránh không muốn nói thẳng vào đám người đã từng bị nhắc nhở và lên án nhiều lần là những tên lẻo mép, chỉ biết nói không thèm làm, hệt như người con thứ hai trong dụ ngôn ("Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: "Lạy Chúa! lạy Chúa! " là được vào Nước Trời cả đâu!" – Mt 7, 22; “Bấy giờ, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: "Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm”. (Mt 23, 1-3). Có một điều rất đáng để suy gẫm là đám người kinh sư ngồi trước mặt Chúa Giê-su mà bị coi không bằng đám người thu thuế và gái điếm. Ấy cũng chỉ vì "…ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy." (Mt 21, 32).
Chung quy thì cũng chỉ vì anh nói thì hay lắm, rất hay; nhưng anh lại không làm được đúng như điều anh đã nói. Một cách cụ thể, anh không tin vào những điều anh nói – không tin cả chính mình – như vậy thì sao có thể gọi là những người đi nói cho kẻ khác tin? Còn người thu thuế và gái điếm, thì vì họ biết nhìn lại mình, biết mình là người tội lỗi và biết tin vào người chỉ dẫn cho mình đường ngay lẽ phải, chính nhờ vậy mà họ thành công. Thật rõ ràng như hai với hai là bốn: “Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình” (Ed 18, 26-27).
Ôi, lạy Chúa! Chẳng phải nói ai khác, mà chính bản thân con, ngay trong lúc này đây, khi đọc Lời Chúa nói về những kinh sư (“Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi" – Mt 23, 5-7), từ trong sâu thẳm lòng mình, con cũng vẫn thèm muốn được như họ, cho dù sau đó có bị án phạt thì cũng vui lòng (“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt,/ Còn hơn buồn le lói suốt năm canh” – Xuân Diệu). Thế đấy! Con cũng chỉ là một con người tầm thường, bé nhỏ, mỏng giòn, Chính vì thế, cúi xin Chúa soi lòng mở trí cho con, thêm sức cho con biết luôn luôn “nhìn lại mình” để chiến thắng chính mình trước đã, và biết luôn luôn đem Lời Chúa dạy ra thực hành với châm ngôn “Đừng làm chỉ vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su”.(Pl 2, 3-5). Ôi! Lạy Chúa con! Lạy Thiên Chúa của con! Amen.




JM. Lam Thy ĐVD.

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2011

ĐỒNG BẠC CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG




ĐỒNG BẠC CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG

(Chúa Nhật 25 TN A)


Trong những năm gần đây, hiện tượng đình công ở các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc ở các công ty xảy ra rất phổ biến, với tầm mức ngày càng lớn và nghiêm trọng. Nguyên nhân của vấn đề là do các ông chủ của các công ty này bóc lột, và đối xử quá bất công với công nhân. Phải làm việc vất vả, nhưng họ lại được các ông chủ trả công quá bèo, không đủ sống. Báo chí còn đăng tải rất nhiều vụ những ông chủ của các công ty nước ngoài đối xử với các công nhân như những rôbốt, có khi còn nhục mạ xúc phạm thậm tệ, khiến công luận phải lên tiếng gay gắt.


Khác hẳn dung mạo những ông chủ bất nhân mà báo chí vẫn thường nêu danh, dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta dung mạo một ông chủ nhân hậu và quảng đại trên cả tuyệt vời. Nhân hậu ở chỗ ông đã thuê mời tất cả những ai mà ông gặp, cả những người thất nghiệp đến giờ thứ 11. Quảng đại ở chỗ ông đã trả công hậu hĩnh cho người làm muộn. Chẳng những thế, ông còn nghĩ đến gia đình vợ con của họ nữa.


Người Do Thái thời Chúa Giêsu chia ngày thành 12 giờ. Ngày bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc lúc mặt trời lặn: 3 giờ là 9 giờ sáng, 6 giờ là 12 giờ trưa, 9 giờ là 3 giờ chiều, 11 giờ là 5 giờ chiều. Theo lệ thường, công nhật sẽ chấm dứt lúc giờ thứ 12, tức là 6 giờ chiều. Những người làm từ giờ 11, tức 5 giờ chiều, họ chỉ làm việc có 1 giờ. Trong khi đó, người làm từ sáng phải làm việc 12 giờ. Vậy mà cuối ngày khi trả lương, ông chủ lại trả bắt đầu từ người sau hết là 1 đồng. Họ phản đối, họ trách móc vì họ bị hai thiệt thòi: kẻ khác làm 1 giờ còn họ làm 12 giờ, kẻ khác làm lúc trời đã mát mẻ, còn họ làm cả ngày dưới trời nắng gió nóng của miền Địa Trung Hải.


Có người nói rằng nếu ông chủ vườn nho không gọi thêm nhân công ở các giờ thứ 10 thứ 11, thì mọi chuyện sẽ bình thường, không có vấn đề gì xảy ra. Hoặc là khi trả cho người làm muộn, đừng cho những người làm sớm biết, chắc chắn cuối ngày, sau khi lãnh lương, các nhân công ra về sẽ vui vẻ chào hỏi, cám ơn và hẹn mai đến làm việc tiếp trong bầu không khí vui tươi, thân ái. Thế nhưng vì có nhóm thợ được thuê vào muộn, họ làm ít giờ hơn, mà lại được trả lương cách không khai bằng với những người làm sớm nhất, nên có bất mãn, ganh tị với những đồng nghiệp, và nhất là đánh giá tiêu cực về ông chủ.


Thực tế, cách cư xử của ông chủ có bất công quá không? Chắc hẳn là không. Bởi vì ông trả đủ số tiền công mà ông đã thoả thuận trước đó là 1 đồng. Như thế, hành động khác thường của ông chủ hoàn toàn không phải do ông ta cư xử bất công, trái lại là do ông ta quá tốt lành. Tốt lành vì ông không muốn cho ai phải thua thiệt sút kém. Ông muốn ai cũng may mắn, ai cũng có tiền về nuôi gia đình. Một đồng ông trả cho người làm giờ 11 không phải là đồng bạc của lẽ công bằng; đồng bạc ấy là đồng bạc của tình yêu thương.


Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn minh chứng rằng: trong cách thức hành động của mình, Thiên Chúa không đi theo những quy tắc lề luật của sự công bằng hạn hẹp, khô cứng, Ngài chỉ thực thi theo sự tốt lành của mình, theo sự thôi thúc bởi tình yêu thương.


Ngài cũng mong muốn chúng ta hãy tránh xa thái độ hẹp hòi ghen tị khi người khác may mắn hơn, tài đức hơn, hay giàu có hơn, xinh đẹp hơn mình… Hãy bằng lòng với cái mình đang có và cố gắng phát huy nó. Ai cũng được Chúa ban cho những khả năng khác nhau: người 5 nén, người 2 nén, người 1 nén. Ngày ra trước mặt Chúa, Chúa không hỏi: con đã làm những gì, làm ông này hay bà nọ; Chúa chỉ hỏi về lòng yêu mến, mến Chúa và yêu người. Chính tình yêu trong công việc là thước đo mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi mỗi người chúng ta.


Những người thợ được thuê làm vườn nho vào những giờ khác nhau, đó là hình ảnh những người được mời vào Giáo Hội qua Bí tích Rửa Tội vào những tuổi đời khác nhau. Sống trong Giáo Hội, mọi người đều là con cái của Chúa, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Ai cũng được Thiên Chúa thương xót. Đã là thương xót thì không còn đứng trong ranh giới công bằng, mà thuộc ranh giới yêu thương. Người trộm lành ở trên Núi Sọ là ví dụ điển hình của những kẻ Chúa gọi làm vào Vườn Nho giờ thứ 11.


Xin cho mỗi người chúng ta biết tín thác vào Thiên Chúa là Ông Chủ Nhân Từ, là Người Cha bao dung, là Đấng đã từng hô to: “Ai không có tiền, cũng cứ đến mà mua bánh, mua nước mà dùng”. Xin cho chúng ta cũng biết quảng đại chia vui với những “người làm công giờ thứ 11” mà chúng ta vẫn gặp gỡ hằng ngày. Amen.



Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Nếu tôi biết tha thứ

Nếu tôi biết tha thứ


Tin Mừng (Mt 18, 21-35) CN XXIV thường niên tiếp tục cho chúng ta nghe giáo huấn của Đức Giêsu về sự tha thứ. Ông Phêrô muốn biết mình phải tha thứ đến mức nào. Vì thế ông hỏi rằng ông phải tha đến mấy lần cho người anh em cứ xúc phạm đến ông. Bảy lần có đủ không ? Đức Giêsu đã trả lời :”Bảy mươi lần bảy !”. Con số này không được hiểu theo nghĩa đen, nhưng muốn minh họa sự rộng lượng của tâm hồn. Nghĩa là Đức Giêsu dạy chúng ta cứ phải tha thứ mãi.

Để minh họa điều này, Đức Giêsu kể một dụ ngôn. Một đầy tớ mắc nợ vua một món nợ khổng lồ mà không bao giờ anh ta có thể trả được. Anh nài xin vua thương, và được tha luôn món nợ. Nhưng câu chuyện không chấm dứt ở đây. Chính người đầy tớ này lại có một bạn đống nghiệp mắc nợ anh một số tiền nhỏ. Thay vì cũng tỏ lòng thương đối với người bạn, anh lại làm ngược lại. Anh đòi người bạn phải trả hết nợ và đi tống người ấy vào ngục. Khi nghe biết hành động của anh, nhà vua nổi cơn thịnh nộ, coi anh như vẫn còn mắc nợ và tống anh vào ngục.

Sứ điệp thật rõ ràng. Chúng ta là những đầy tớ đã được tha món nợ khổng lồ mà chúng ta không bao giờ trả được. Nếu chúng ta không tha thứ cho người anh em một điều lỗi nhỏ hơn nhiều thì chúng ta sẽ phải đối diện với sự xét xử của Thiên Chúa. Vì vậy, là Kitô hữu chúng ta phải tha thứ không trì hoãn cho những anh chị em khi họ xúc phạm đến chúng ta.

Dụ ngôn này dạy chúng ta về bản tính yêu thương của Thiên Chúa. Điều này có ảnh hưởng gì đến thái độ chúng ta sẵn sàng tha thứ cho người khác ?

Trong những năm 1944-1945 dân Rôma khiếp sợ mỗi khi nghe nhắc đến tên Peter Koch, một sĩ quan mật vụ Đức quốc xã từng giết hại rất nhiều người. Sau chiến tranh, anh bị bắt và bị kết án tử hình. Anh viết thư cho Đức Giáo hoàng Piô 12 để xưng thú các tội ác mình đã phạm và đặc biệt xin ngài tha thứ cho anh tội đã tấn công vào Vương Cung thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành.

Đức Thánh Cha đã sai một Linh mục đến nhà tù để gặp anh ta và chuyển đến anh ta sự tha thứ của ngài, đồng thời trao cho anh một tràng hạt mân côi. Đến nhà giam, sau khi đã làm theo lời căn dặn của Đức Giáo hoàng, vị Linh mục đã nghe người tử tội thốt lên như sau :” Tổ quốc nguyền rủa con, đó là điều hợp lý. Tòa đã kết án con, điều này cũng rất công bằng. Đức Giáo hoàng đã tha thứ cho con và đã cho con một bài học cao quí. Giả như con đã luôn nghĩ đến việc tha thứ, thì giờ này có lẽ con không phải ra pháp trường như hôm nay.”

Nhận ra lỗi lầm của mình, kêu cầu sự tha thứ và tha thứ cho người khác, đó là một trong những hành động vĩ đại nhất của con người.

Trong một thế giới khắc nghiệt bị chi phối bởi lề luật, xung đột và hận thù, thì Giáo Hội vẫn trung thành với giáo huấn của Đức Giêsu, không ngừng nhắc lại bổn phận phải tha thứ cho nhau. Tha thứ không phải vì công lý nhưng vì tình yêu. Chiến tranh sẽ mau chóng chấm dứt, bạo lực sẽ không còn và hận thù sẽ tiêu tan nếu như mọi Kitô hữu đều thực thi mạnh mẽ đòi hỏi của Tin Mừng : Hãy tha thứ với tất cả con tim ! Như Thiên Chúa tha thứ và bỏ qua những lỗi lầm của nhân loại, đến lượt mình con người cũng phải biết tha thứ cho nhau, tha thứ trong mọi hoàn cảnh. Lời kinh Lạy Cha mọi người vẫn đọc trên môi miệng hằng ngày :”Xin Cha tha nợ cho chúng con, như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con” phải thực sự trở nên nếp sống của mỗi người.


Phanxicô Xaviê

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

SỬA LỖI ANH EM

SỬA LỖI ANH EM


Con người ai cũng có lầm lỗi. Vậy mà thái độ ứng xử trước lầm lỗi của người khác lại không giản đơn. Đối với lỗi lầm của người khác, ta thường có hai thái độ, hoặc quá khắc nghiệt loại trừ, hoặc quá thờ ơ lãnh đạm. Cả hai thái độ đó đều thiếu xây dựng. Quá khắc nghiệt loại trừ sẽ khiến ta can thiệp thô bạo vào đời tư, sẽ gây ra bất mãn, đổ vỡ. Quá thờ ơ lãnh đạm sẽ buông thả mặc cho sự xấu tràn lan, sẽ làm cho xã hội suy thoái.

Giáo Hội là một cộng đoàn những con người. Lầm lỗi là không thể tránh khỏi. Vì thế muốn cộng đoàn phát triển, việc sửa lỗi là cần thiết, nhất là đối với những lầm lỗi công khai ảnh hưởng đến đời sống cộng đoàn.


Tuy nhiên sửa lỗi là việc khó. Không khéo thì lợi bất cập hại. Lời Chúa hôm nay đưa ra những hướng dẫn cần thiết giúp việc sửa lỗi có kết quả.


Muốn sửa lỗi phải
quan tâm. Chúa nói: Khi anh em ngươi sai lỗi. Vâng, người sai lỗi đó không phải ai xa lạ. Đó là anh em tôi, là người nhà của tôi, là một thành phần của đời tôi. Nếu lầm lỗi giống như một cơn bệnh, làm sao tôi không lo lắng chạy chữa cho người thân, nhất là cho chính bản thân khi bị mắc bệnh? Nếu lầm lỗi giống như mất mát người thân, làm sao tôi không đau xót lên đường đi tìm ngay tức khắc?

Muốn sửa lỗi cần
can đảm. Càng ngày người ta càng muốn tránh đụng chạm, mích lòng. Dại gì nói những chuyện không vui để mua thù chuốc oán vào thân. Vì thế, để sửa lỗi, cần phải can đảm. Can đảm đến với người lầm lỗi. Can đảm nói sự thật về lỗi lầm của họ. Can đảm chấp nhận những rủi ro do việc sửa lỗi đưa đến như sự giận ghét, sự công kích, chấp nhận bị phê bình ngược lại.

Muốn sửa lỗi phải
trân trọng. Trân trọng vì người lầm lỗi đó là người anh em tôi, là đáng quí trọng đối với tôi. Trân trọng vì người anh em tuy có lầm lỗi, vẫn có khả năng sửa đổi. Sửa lỗi là tin vào thiện chí, vào mầm mống tốt đẹp Chúa gieo vào lương tâm mỗi người. Sự khinh miệt, lên mặt kẻ cả sẽ chỉ chuốc lấy thất bại.

Muốn sửa lỗi phải rất
tế nhị. Tâm hồn người lầm lỗi rất mong manh. Vừa đầy tự ái vừa đầy mặc cảm. Một lời nói không khéo sẽ dẫn đến đổ vỡ. Một thái độ vô tình sẽ càng khơi thêm hố ngăn cách. Vì thế Chúa dạy tôi phải rất tế nhị khi sửa lỗi. Thoạt tiên chỉ gặp riêng một mình. Gặp riêng là một thái độ tế nhị. Sự tế nhị tạo nên cảm giác an toàn, kính trọng và yêu thương. Sự tế nhị tạo ra một bầu khí tín nhiệm thuận lợi cho việc cởi mở tâm tình, khai thông bế tắc. Sự tế nhị sẽ trở thành chiếc cầu đưa người lầm lỗi trở về cộng đoàn.

Sau cùng, muốn sửa lỗi phải
kiên trì. Việc sửa lỗi không giản đơn. Không phải làm một lần là thành công ngay. Vì thế phải rất kiên trì và có nhiều phương án. Kiên trì để vẫn tiếp tục dù đã một lần thất bại. Có nhiều phương án để cương quyết đi đến thành công. Hôm nay Chúa đưa ra cho ta ba phương án để chinh phục người anh em: Gặp riêng, gặp có người làm chứng và sau cùng mới đưa ra cộng đoàn.

Như thế, việc sửa lỗi hoàn toàn là một việc làm được thúc đẩy do tình yêu. Chính bầu khí tin yêu đó sẽ khiến cộng đoàn phát triển. Ai cũng mong được sống trong một cộng đoàn yêu thương như thế. Vì khi lầm lỡ ta biết mình không bị loại trừ nhưng sẽ được quan tâm giúp đỡ, một sự giúp đỡ chân thành, tế nhị và đầy yêu thương.


Lạy Chúa, xin ban cho con tâm hồn bác ái đầy tế nhị của Chúa.


GỢI Ý CHIA SẺ

  1. Sửa lỗi anh em, góp ý phê bình, dễ hay khó?
  2. Khi biết anh em lầm lỗi, bạn làm gì? Vạch mặt chỉ tên hay giả điếc làm ngơ?
  3. Trong gia đình, trong xứ đạo bạn, đã có sự góp ý tốt đẹp chưa?

GM. Ngô Quang Kiệt.
 
longchuathuongxot.net

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2011

“Khuyên một lời ư?

Suy Niệm Chúa Nhật thứ 23 Thường niên năm A 04.09.2011
“Khuyên một lời ư?
Nhưng biết đâu, lời khuyên không chạm đến tim đau!”
(dẫn từ thơ Nguyễn Bính)




Mt 18: 15-20
Khuyên hay không khuyên, đâu là giải pháp của người đời, với vần thơ? Giải hay không giải, vẫn là quyết định của cộng đoàn đấng bậc khôn ngoan đầy kinh nghiệm, trong chung sống. Khuyên và giải, còn là ý tưởng chủ lực của trình thuật, rất hôm nay.
Trình thuật hôm nay, là của thánh Mát-thêu được Phụng vụ Hội thánh rút tiả làm nền hầu khuyên giải thành viên nào đang có vấn đề tranh chấp. Trích đoạn, lấy từ chương 18 có những lời giải khuyên hãy nên sống như Đức Chúa, Đấng từng lân la sống với cộng đoàn đồ đệ thân thương, rất quí mến.

Cộng đoàn thánh Mátthêu xưa có các thành viên người gốc Do thái sống ở Antiôkia. Trước đó, cộng đoàn vẫn sống ở vùng phụ cận thành đô Giêrusalem, chốn đào tạo thành viên chuyên nghiệp, rất đạo hạnh. Khi người La Mã tìm đến bách hại, cộng đoàn này đã phải rời thôn làng mình làm dân lưu lạc ngay trong chốn phồn hoa thị thành mang tên Antiôkia, nơi hội ngộ của nền văn hoá giao lưu Âu Á, thời xưa cũ.
Bên trong khu nhà đầy cách biệt, là chốn tách bạch khỏi người Do thái tin vào Đức Giêsu. Vì sự tách bạch này, nên thường xảy đến nhiều cãi tranh, tị nạnh giữa kẻ tin Chúa và người chẳng biết tin vào điều gì. Vào ai. Khiến đôi đàng không thể hoà hợp, chung sống. Từ đó, vì có khó khăn, nên kẻ tin vào Chúa cũng bớt đi sinh hoạt đạo hạnh như trước. Và sự thể ấy dẫn đến tình huống rắc rối với cộng đoàn.
Đó là lý do khiến có nhiều người đến với thánh sử Mát-thêu để được tư vấn về các nguyên tắc chủ chốt khả dĩ giúp họ trở thành cộng đoàn lành thánh sống trong môi trường dù đổi mới. Đây, còn là nguồn hứng khởi khiến thánh sử viết lên chương sách mang nhiều ý nghĩa để rồi tóm kết bằng hai nguyên tắc chính cho cộng đoàn lấy đó mà sống. Nguyên tắc, là: trong cộng đồng dân Chúa không thể và không nên có một ai thấy mình bị lạc lõng. Và, nguyên tắc thứ hai, là: trong cộng đoàn tình thương làm con Chúa, không thể và không nên có thành phần nào bị bỏ rơi, quên lãng. Hoặc, hư mất.
Thánh sử còn quả quyết: giả như cộng đoàn quyết tâm tuân thủ hai nguyên tắc làm nền để sống chung, thì mọi sự cũng sẽ đâu vào đó. Bằng không, chẳng có gì chứng tỏ họ là cộng đoàn Kitô-hữu, đúng ý nghĩa cả. Đó là qui định tư riêng. Qui định đòi chúng dân phải sống, không như thể chế nguội lạnh, mà là gia đình ấm cúng, rất anh em. Đó, cũng là đề nghị được thánh Mát-thêu đặt ở Tin Mừng chương 18. Rủi thay, các đấng bậc chủ quản phụ trách chọn bài đọc cho Phụng vụ Chúa nhật, lại không mấy chú tâm đến ý nghĩa trọn vẹn trong chương này từng qui định.
Ở đầu chương này, đã thấy nổi lên một tham luận, có Chúa dự. Tham luận này xoay quanh câu mà các môn đệ cứ là hỏi nhau: “Ai là người lớn nhất ở Nước Trời, đây? “(Mt 18: 1) Nếu tưởng tượng, người đọc sẽ thấy đồ đệ Chúa quây tụ thành vòng tròn ngồi ở sân làng rồi kháo láo với nhau: “Rồi, Thầy sẽ cho ta biết ai là người lớn nhất. Và, đâu là tiêu chuẩn để định ra người lớn nhất Nước Trời? Chúa chẳng nói gì. Ngài chợt thấy một bé em đang nghịch đất, Ngài bảo bé đến ở giữa vòng tròn, rồi bảo:“Nếu anh em không như trẻ bé mọn, sẽ chẳng vào Nước Trời.” (Mt 18: 3). Và, thánh Mát-thêu triển khai thêm ý nghĩa “nên như trẻ bé mọn”.
“Trẻ bé mọn” đây, nên hiểu theo nghĩa biểu tượng. Bởi thời xưa, ”trẻ bé mọn” không khi nào mang ý nghĩa của những ngây thơ, trong trắng hoặc nét đẹp không hao mòn như ở Anh thời nữ hoàng Victoria. Với thế giới Híp-ri, thì “trẻ bé mọn” là biểu tượng của những kẻ không có quyền, dù quyền hành hay quyền lợi. “Trẻ bé mọn”, là những người nghèo hèn. Là, kẻ bị quên lãng, bỏ ngoài bên xã hội.
Với cộng đoàn Kitô hữu, những người ăn trên ngồi chốc, các bậc vị vọng, đạo hạnh, quyền thế, giàu có, chẳng bao giờ là “trẻ bé mọn” bị quên lãng, hoặc hư mất hết. Như Chúa nói: “Anh em chớ nên khinh thị một ai trong đám trẻ bé mọn này…Con Người đến để cứu cái gì hư mất.”(Mt 18: 10).
Thế nên, nguyên tắc làm “nền” cho cộng đoàn Nước Trời người tín hữu Đức Kitô, là: đón mừng” “trẻ bé mọn”. Nói vắn gọn, thì như thế cũng đủ. “Mừng đón” là câu nói đầu chỉ một hành xử đúng đắn. “Đón mừng”, phải là hành xử rất ban đầu và trước tiên của cộng đoàn. Chí ít, là cộng đoàn dân con của Chúa. Mừng-đón-trẻ-bé-mọn, không là đón mừng các đấng toàn năng, toàn thiện. Mà là, mừng và đón những kẻ sẽ chẳng-bao-giờ-trở-nên-toàn-thiện, tuyệt vời. Đây, là sinh hoạt vào lúc đầu của cộng đoàn dân con Đức Kitô. Cung cách ta mừng đón “trẻ bé mọn” phải khác cung cách đón mừng, rất chung chung. Tức, ta phải mừng đón những “trẻ bé mọn” không hoàn chỉnh, khi họ lạc lõng, hư mất. Đón và mừng những con người bị đồng hoá với “trẻ bé mọn” như thế, tức là không được phép để người ấy lạc lõng, bị bỏ rơi, hư mất.

Ai trong chúng ta thực sự, và trên thực tế, từng lạc lõng? Nói nôm na, thì thế này: sống trong cõi đời nhiều bon chen/tranh chấp, ta phải định ra chỗ đứng của mình. Phải biết mình đang ở đâu. Làm sao để người khác tìm ra mình hoặc mình tìm ra người khác đang lạc lõng, hư mất? Đó là kinh nghiệm ban đầu. Đó là cung cách sống để ta luôn tìm thấy những “trẻ bé mọn” sống dưới mức hưởng được may mắn với mọi quyền lợi. Thế nên, ta cũng hiểu được tại sao lại gọi những “trẻ bé mọn” ấy là kẻ lạc lõng, hư mất. Trong khi, họ là người lẽ ra không đáng bị ta quên lãng, coi thường. Họ phải được ta mừng đón và kiếm tìm một cách tích cực, để rồi ta đưa họ vào tận trung tâm điểm của cộng đoàn. Nếu không làm thế, thì không thể và không đáng gọi là thành viên cộng đoàn Kitô-hữu, tức cộng đoàn không có ai và không một ai bị lạc lõng, hư mất.

Đối chọi lại hành xử mừng đón trẻ bé mọn, là cản trở trẻ lạc lõng, hư mất. Cản trở, được coi như một hành động bỉ ổi. Rất tai tiếng. Cản trở tức trở thành sỏi cát lọt trong giầy của trẻ bé hèn mọn vậy. Những người là sỏi cát cản trở bước đi của bọn trẻ bé, lại chính là những người mắc lỗi nặng trong chung sống. Sống rất chung, đời cộng đoàn dân con của Chúa. Người cản trở trẻ bé mọn như thế, chỉ đáng cột cổ vào đá, quăng xuống biển, một hình phạt dành cho lỗi phạm, cũng khá nặng.
Bởi thế nên, thánh Mát-thêu mới tóm tắt giới lệnh căn bản, trong 10 giới lệnh yêu thương bằng câu: “Không được nên cớ vấp phạm cho người nào trong các “trẻ bé mọn” tin vào Ta” (Mt 18: 6-8). Và cả câu 14: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không hề có ý để ai trong những trẻ bé mọn này hư mất.”
Nguyên tắc thứ hai cho cộng đoàn chung sống cũng gần giống như nguyên tắc đầu. Tức, trong cộng đoàn Kitô-hữu ta chung sống, không ai được phép có hành xử với mọi thành viên khác như người hư mất, khó thứ tha. Một trong cung cách bị coi là lạc lõng, hư mất, tức là không thể tha thứ cho người ấy. Trong cộng đoàn Hội thánh, không thể có động thái giống như thế. Đó là ý tưởng mà thánh Mát-thêu còn viết nhiều ở các chương đoạn kế tiếp.

Tựu trung, ý tưởng mà thánh nhân muốn nhấn mạnh, là: hãy ra đi mà tìm kiếm những “trẻ bé mọn” đem họ về lại với cộng đoàn. Công tác này, không thể là động thái bốc thăm, may rủi, được. Nhưng, phải là mục tiêu hành động. Là, hành xử mang tính cách xuyên suốt, rất văn hoá. Là, mục tiêu phải đạt chứ không là động thái thích thì làm không thích thì thôi. Thời buổi hôm nay, còn rất nhiều “trẻ bé mọn” đang lạc lõng bằng cách này hay cách khác qua cách hành xử của ta và “trẻ bé mọn” dễ bị cuốn hút vào chốn “hư mất”, nếu ta không ngó ngàng gì đến họ. Và, vấn đề là hỏi: ta có bỏ công đi tìm những người như thế, mà đưa về “ràn chiên” Hội thánh không?
Tại thành đô Giêrusalem hôm nay, có khu tưởng niệm “những trẻ bé mọn” bị lạc lõng/hư mất trong lò thiêu sống. Bên trong khu này, là phòng tối có những đốm sao lấp lánh chiếu lên ảnh hình và tên tuổi của từng bé em bị lạc lõng, thân hư nát.Và, có cả tiếng giọng ở hậu trường gọi tên em bằng tiếng Aram tựa hồ tiếng của Cừu mẹ Rachel gọi cừu con đang bị lạc. Chính đó, là ý nghĩa của trích đoạn trình thuật mà thánh sử Mát-thêu, xưa nay muốn diễn tả.

Thánh Hội của ta hôm nay có đang cuồng điên gọi tìm “trẻ bé mọn” đang đi lạc, ở đâu không? Gọi và tìm, như ý tưởng của thánh sử Mát-thêu từng ghi chép? Có hay không, cũng nên tự hỏi: cho đến nay ta đã bao lần ;à hạ sỏi trong giầy của trẻ bé mọn? Ngày hôm nay, ta có cảm nghiệm sống thực hiện nguyên tắc/lý tưởng này trong thể chế có tổ chức thành cộng đoàn không? Nếu chưa, thì ta có ý định bắt đầu ngay chưa?
Là thành viên Hội thánh lớn/nhỏ, câu hỏi ấy đã trở thành vấn nạn gửi đến cho người. Cho mình.

Trong tâm tình tìm câu trả đáp cho thoả đáng, cũng nên tìm nguồn hứng khởi ở câu thơ, rằng:
“Lời khuyên không chạm đến tim đau.
Tim đau sẽ vọt ngàn tia máu.
Đọng lại muôn ngày vết hận sâu…”
(Nguyễn Bính – Cầu Nguyện)

Nhà thơ đời vẫn hỏi, như một lời nguyện cầu. Cầu mọi người. Nguyện ở mọi nơi. Cả những nơi có con tim không “vọt ngàn tia máu” xót thương. Tia máu yêu thương những là tìm đường mà mở rộng vòng tay đó những “trẻ bé rất mọn hèn”, còn lưu lạc ở nhiều nơi.




Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh - Mai Tá luợc dịch.