Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu Công Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu Công Giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

Thuyết tiến hoá và Đức tin không hề phủ nhận nhau

Thuyết tiến hoá và Đức tin không hề phủ nhận nhau

Phải chăng khoa học đi ngược lại lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh? Có nhiều người đã nghĩ như vậy và cho rằng khoa học và lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh hoàn toàn không thể đi đôi với nhau được, vì một bên dựa trên những lý chứng rõ ràng minh bạch, còn bên kia lại dựa trên đức tin và mang tính chất truyền thuyết giả tưởng. Vì thế, họ cho rằng bao lâu lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh còn được khẳng định thì không thể nói đến thuyết tiến hoá, vì có hai lý do đối kháng giữa Kinh Thánh và khoa học không thể vượt qua được.
Lý do thứ nhất: Trong khi theo Kinh Thánh thì trước hết Thiên Chúa đã dựng nên trái đất và tiếp đến mới dựng nên các tinh tú, khoa học tân tiến ngày nay về vũ trụ lại cho rằng trái đất là một trong số các hành tinh được hình thành về sau này, kết quả của một cuộc nổ tung vĩ đại (big Bang) trong vũ trụ trên dưới 14 tỷ năm về trước.
Lý do thứ hai: Trong khi theo Kinh Thánh thì trước khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã dựng nên các thứ thú vật và những cây cỏ xanh tươi làm lương thực cho chúng, một hình ảnh đầy hiền hoà của Vườn Địa đàng, thuyết tiến hoá lại chứng minh rằng trước khi có sự hiện hữu của con người trên trái đất thì đã có những dã thú ăn thịt rất hung dữ, chứ không chỉ gặm cỏ cách hiền hoà mà thôi.
Ngoài hai lý do đối kháng trên đây, còn một lý do khác nữa, đó là: Theo sự trình thuật của sách Sáng Thế Ký thì vũ trụ được dựng nên trước khi xảy ra sự sa ngã phạm tội của ông Adong và bà Evà, nhưng theo ý kiến khoa vũ trụ học và thuyết tiến hoá thì sự sa ngã phạm tội của ông Adong xảy ra trước khi có vũ trụ, tức vũ trụ chúng ta sống.
Thật ra, sự kiện con người bị trục xuất ra khỏi Vườn Địa đàng không có nghĩa là Thiên Chúa đã dựng nên một vũ trụ thứ hai như nơi đày ải đầy khổ cực, thay thế cho vũ trụ thứ nhất đã bị huỷ hoại do tội nguyên tổ gây ra, và trong vũ trụ thứ hai ấy con người phải sống cuộc sống đầy gian lao vất vả sau khi đã phạm tội và vị trục xuất khỏi Vườn Điạ đàng. Nhưng sự thật là Vườn Địa đàng bị khoá lại và thay vào đó là một thế giới đã trở nên hư hỏng do tội lỗi gây nên.
Thiên Chúa Tạo Hoá không dựng nên hai vũ trụ
Như vậy, theo Kinh Thánh, qua sự sa ngã phạm tội của ông Adong, các tương quan trong vũ trụ và trong lịch sử tạo dựng của cuộc sống trên trái đất đã hoàn toàn bị đảo lộn và chính chúng là đối tượng nghiên cứu của khoa học như khoa vũ trụ và thuyết tiến hoá. Nói cách khác, chính do tội con người gây ra, trái đất đã bị nguyền rủa và đã bị thay đổi từ nền tảng: đất đai mất hết màu mỡ và trở nên gai góc, khô cằn, và vì thế, con người phải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được của ăn hằng ngày và sau cùng lại phải đón nhận cái chết như hậu quả tất yếu (x. St 3,17-19). Điều ấy muốn khẳng định rõ ràng là qua sự trình bày này về sự thay đổi của vũ trụ, Kinh Thánh chỉ muốn nói đến hậu quả trực tiếp của tội lỗi đã làm cho những điều kiện sống của con người trở nên vất vả, khổ cực, chứ xét về toàn diện, các điều kiện sống đó không thể tách biệt con người ra khỏi vũ trụ, hay nói đúng hơn, Thiên Chúa đã không dựng nên một vũ trụ mới đầy khổ ải, đau thương và cằn cỗi để đày đoạ và phạt tội con người. Nếu bây giờ những thay đổi của vũ trụ xét theo toàn thể đã trở thành đối tượng của thuyết tiến hoá, thì không có gì là đi ngược lại lịch sử sáng tạo của Kinh Thánh. Và cũng chính hậu quả của tội lỗi gây ra, nên không chỉ đất đai trở nên gai góc và khô cằn, khiến cho con người phải vất vả cực nhọc mới kiếm được của ăn nuôi thân, nhưng cả các loài vật cũng phải tranh giành, ăn thịt lẫn nhau mới mong tồn tại. Qua đó, người ta thấy rằng giữa lịch sử sáng tạo và thuyết tiến hoá không có gì mâu thuẫn nhau. Chỉ có khác nhau duy nhất ở chỗ: Theo Kinh Thánh thì tất cả mọi tạo vật là do công trình sáng tạo của Thiên Chúa, còn theo khoa học thì tất cả mọi sự là hậu quả của một sự phát triển tự nhiên.
Nói một cách tổng quát, tư tưởng nguyên thuỷ về cây gia phả được coi là “lý thuyết về chủng tộc”. Nhưng một câu hỏi lại được đặt ra là làm thế nào người ta có thể ghép chung các loài bò sát, các loại chim chóc, các loại cá… hoàn toàn khác nhau, cùng theo một cách thức phát sinh giống nhau? Vào năm 1866, Ernst Haeckel, nhà sinh vật học người Đức, đã bỏ ngoài mọi do dự và bất đồng ý kiến trong dư luận và đã cho công bố lý thuyết về cây gia phả (Stammbaum).
Ngày nay, lý thuyết về phổ hệ hay tộc hệ (Genealogie) của các loại động vật đã bị loại bỏ. Qua những cuộc khai quật, người ta đã tìm thấy được những dấu tích thuộc cổ sinh vật học giúp khám phá ra rằng, các cơ thể sinh vật được phát sinh, nảy nở và chết đi. Chính trong quá trình ấy, cơ thể các sinh vật luôn luôn phát triển và hoàn thiện theo những cấp bậc cao hơn và tiến mãi cho tới khi thành con người. Trong đó, giữa những cơ thể sinh vật khác nhau có những tính chất tương đồng (Homologien) thuộc giải phẫu học, thuộc sinh lý và trong các sinh hoạt nhất định, khiến người ta có thể phân biệt được các nhóm sinh vật có liên hệ gần gũi hay xa biệt nhau.
Chính điều này đã làm nảy sinh ý kiến mới khác cho rằng trên mặt đất đã xảy ra một sự tiến hoá nội tại, tức mọi sinh vật tự phát triển, theo những định luật tự nhiên, và qua đó tư tưởng về một Đấng Tạo Hoá hoàn toàn không có chỗ đứng. Dĩ nhiên, người ta cũng đừng vội quên rằng đây mới chỉ là một ý kiến mang tính cách loại suy mà thôi. Vâng, ở đây nguyên nhân mới chỉ được cắt nghĩa theo hiệu quả mà thôi, trong khi một định luật chỉ có thể kiểm tra được một cách thực nghiệm, nếu qua những dẫn chứng của nguyên nhân, hiệu quả được dự đoán cũng thực sự được hiện thực.
Với tính cách là nguyên nhân, người ta phỏng đoán được sự ngẫu biến (Mutation) và đào thải (Selection). Nhưng người ta cần phải hiểu những quá trình diễn biến ấy như thế nào? Qua quá trình “ngẫu biến”, người ta hiểu là những thay đổi của những cái được gọi là phân tử di truyền (Gène), qua đó những hình thức sinh vật học mới được phát sinh, trong khi đó, sự đào thải lại quyết định hướng đi từ những tế bào phôi thai tiến tới thành người. Nhưng bây giờ lại có một sự ngẫu biến không thể cắt nghĩa theo khoa học được, một sự ngẫu biến không phải là một định luật có thể định nghĩa được. Nói cách khác, có những thay đổi của phân tử di truyền dẫn tới những hình thức mới mẻ một cách theo kiểu vi trùng học, mà theo khoa học thì không thể giải thích được.
Còn bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu những điều có liên quan tới sự đào thải. Những diễn biến sự đào thải từng đã đưa tới sự nảy sinh tiến hoá lâu dài của những cơ thể sinh vật thì luôn luôn là một bí ẩn. Vâng, quả là một ẩn số khó tìm ra được một giải thích thoả đáng trong các trường hợp tiến hoá lâu dài ấy, ví dụ: sự tiến hoá từ những loại bò sát biến thành những con chim hay từ những con cá bơi lội trong nước trở thành những con vật sống trên đất.
Giờ đây, người ta đã tìm cách giải mã điều bí ẩn lớn nhất của sự tiến hoá bằng những phương tiện thuộc sinh vật học về phân tử hay thuộc tính trùng hợp hoá học. Vấn đề ở đây là vấn nạn về sự xuất phát của những chuỗi dài yếu tố di truyền DNA, tức những yếu tố cơ bản cấu tạo nên sự sống. Nhưng điều ấy đã rõ ràng nói lên rằng sự cấu tạo những chuỗi như thế nếu không có sự can thiệp của một ý muốn vốn đã hiện hữu trước, hay nói cách khác, nếu không có một Đấng Tạo Hoá toàn năng và tự hữu, thì hoàn toàn là một điều bất khả, ví dụ như trong việc chế tạo ra những chất hoá học đa dạng xảy trong phòng thí nghiệm hay trong sự sản xuất kỹ nghệ.
Quan niệm chủ trương có thể giải thích được vũ trụ mất chỗ đứng
Tuy nhiên, sự phê bình này không chỉ nhằm vào lý thuyết về nguồn gốc xuất phát của sự sống, nhưng còn nhằm tới quan điểm khá phổ quát cho rằng sự tiến hoá lâu dài xảy ra qua sự ngẫu biến và qua sự đào thải. Nhưng như đã trình bày, sự tiến hoá lâu dài được dựa trên một sự ăn sâu của những phân tử di truyền vào những chuỗi DNA đang hiện diện sẵn, chứ không dựa theo sự ngẫu biến. Vì vấn đề ở đây không phải là bất cứ những phân tử di truyền nào đó, nhưng là những phân tử di truyền mới và vượt lên trên những phân tử đang có. Dĩ nhiên, sự diễn biến như thế thì chắc chắn là rất khó lòng kiểm soát được.
Ở đây, chúng ta hãy nghe ý kiến của hai nhà hoá học nổi tiếng, Bruno Vollmert und Manfred Eigen. Tiến sĩ Vollmert viết: “Khi tôi càng nỗ lực suy luận một cách chính xác theo đúng các nguyên tắc khoa học, thì tôi càng trở nên xác tín hơn khi cho rằng vũ trụ đã được một Đấng Tạo Hoá toàn năng tạo dựng nên, chứ không phải như thuyết tiến hoá của Darwin chủ trương” (x. “Das Molekül und das Leben”). Còn Tiến sĩ Eigen thì kết luận: “Nếu ngày nay có ai khẳng định rằng vấn đề nguồn gốc sự sống trên hành tinh chúng ta đang ở đã được giải mã, thì người ấy đã quá lời so với sự hiểu biết của mình” (x. “Die Entwicklung des Lebens”).
Để tóm luợc suy luận trên, có lẽ chúng ta thử đưa ra một ví dụ: Chẳng hạn cứ tạm cho rằng người ta tìm thấy trên mặt trăng một chiếc máy bay tối tân, và người ta cũng biết được chiếc máy bay đó đã được lắp ráp và cấu trúc như thế nào. Tuy nhiên, còn một bí ẩn chưa được giải mã, đó là sự lắp ráp thành chiếc máy bay đã thành công ra sao.
Một điều đáng ghi nhận ở đây là đại chúng biết được rất ít về tính cách khả nghi của thuyết tiến hoá cũng như sự đa dạng trong công cuộc khám phá cơ bản và quan trọng của nó. Nhưng cũng phải chấp nhận rằng hiện tượng ấy sẽ có thể thay đổi theo một mức độ mà kinh nghiệm về không gian đang thu hút một sự chú ý rộng rãi của đại chúng như chúng ta từng chứng kiến qua các bài khảo cứu được tường trình trên các kênh truyền hình quốc tế.
Như vậy, qua sự tiến bộ của sự nhận thức khoa học, con người càng phải đối mặt với một bí ẩn to lớn về sự sống và đồng thời quan niệm chủ trương rằng người ta có thể dùng khoa học để giải mã được mọi bí ẩn của vũ trụ đã từ từ tan biến và mất hết đất đứng. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là con người thôi không cần tìm hiểu và nghiên cứu về vũ trụ nữa; nhưng chỉ muốn khẳng định rằng con người không nên gắn bó với ý tưởng sai lầm cho rằng khả năng nhận thức khoa học của con người có thể xoá bỏ niềm xác tín Kitô giáo vào Đấng Tạo Hoá toàn năng đã tạo dựng nên vũ trụ, con người và tất cả mọi tạo vật khác trong vũ trụ; trái lại, đức tin là con đường duy nhất có thể giúp con người giải mã được bí ẩn về nguồn gốc của sự sống và của vũ trụ, hay nói cách khác, có thể giúp con người tìm thấy chân lý sau cùng, khi nó dẫn đưa con người đến cùng Thiên Chúa Tạo Hoá, Đấng chính là nguồn gốc của mọi sự sống và của vũ trụ.


Lm. Nguyễn Hữu Thy

Kế thừa văn học công giáo trong thời kỳ khủng hoảng

KẾ THỪA VĂN HỌC CÔNG GIÁO TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG


Chữ Quốc Ngữ Trong bản tổng kết cuộc thi Nhánh Huệ Nước Trời đọc tại Lễ Phát giải 30-6-2011, tôi có thưa:
“Nhờ các nhà truyền giáo, người Việt Nam đã có thể dùng chữ Quốc Ngữ thay cho chữ Hán và chữ Nôm. Chăc chắn không ai chối cãi được rằng, mục đích ban đầu và chính yếu của chữ Quốc Ngữ khi được thành lập là để chuyển tải Lời Chúa đến cho mọi người.
Và tiếp nối công trình các vị thừa sai, cách đây 6 năm, trên mạng lưới điện toán toàn cầu, xuất hiện một trang mới: mangluoidunglac.net, dunglac.net, rồi dunglac.org… Đây là sáng kiến độc đáo của Cha Andre TCT, một người đầy tâm huyết với việc xiển dương văn học Việt Nam, nói chung và Văn học Công giáo Việt Nam nói riêng. Đây là một nỗ lực mới nhằm rao giảng Tin Mừng bằng Việt ngữ, bằng văn học Việt Nam, và bằng hội nhập văn hoá Việt Nam”.
Thiết tưởng, việc các vị thừa sai thành lập chữ Quốc Ngữ Việt Nam là một hồng ân trong chương trình của Thiên Chúa.
Nguyệt san Missi MISSI, Mai/1961, trang 147-173, nhận định:
... Đã từ lâu đời, người Việt Nam viết bằng chữ Tàu, hoặc bằng chữ Nôm, do họ sáng chế ra. Nhưng đa số người Việt Nam không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì theo lời Cha Đắc Lộ, Tàu có đến 80.000 chữ viết khác nhau. Các nhà truyền giáo đầu tiên khi đến Việt Nam, bắt đầu dùng mẫu tự Latinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Khi Cha Đắc Lộ đến Việt Nam, có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ Latinh rồi. Vì thế, có thể nói rằng, công trình sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ trước tiên là công trình chung của các nhà thừa sai tại Việt Nam. Nhưng khi chính thức in ra công trình khảo cứu chữ viết tiếng Việt của mình, là cùng lúc, Cha Đắc Lộ khai sinh ra chữ viết này, ban đầu được các nhà truyền giáo sử dụng, sau đó, được toàn thể dân Việt Nam dùng và biến nó thành chữ quốc ngữ. Tất cả các nước thuộc miền Viễn Đông từ đó ước ao được có chữ viết cho quốc gia mình y như chữ quốc ngữ này vậy!
(Sr. Jean Berchmans Minh Nguyet)
Hồng ân ấy cụ thể hơn, khi mục đích ban đầu và duy nhất của chữ Quốc Ngữ là truyền rao Tin Mừng.
Tác giả An Chi, An ninh Thế giới, ngày 28-9-2010 có thể phản bác về lập luận rằng công trình thành lập chữ Quốc Ngữ là của riêng Cha Đắc Lộ. Ông đưa ra những chứng dẫn công trình thành lập chữ Quốc Ngữ là của nhiều người, ông còn cho là công của “tập thể quốc tế” thay vì nói của các vị thừa sai. Công của ai, hay của riêng ai, thiết nghĩ vẫn là chuyện thứ yếu. Chuyện chính vẫn là chuyện mục đích ban đầu của chữ Quốc Ngữ.
Tác giả An Chi phải chấp nhận mục đích của chữ Quốc Ngữ vì mục đích ấy chính Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã ghi rõ. Tác giả viết:
“Vậy đã đến lúc ta nên chấm dứt câu chuyện cổ tích về sự sáng chế chữ Quốc Ngữ của A. de Rhodes. Còn mục đích của cố đạo này thì đã được chính ông ta xác định như sau:
“(...) ước gì các ngài trở nên những người truyền bá nhiều phương ngữ, để không những các nước lân cận và quen biết từ xưa được nghe những sự kỳ diệu của Thiên Chúa mà cả mọi miền dưới bầu trời và những vương quốc rất xa xôi ở cực Đông từ nhiều thế kỷ qua chưa được nghe, thì bây giờ những nước ấy cũng phải được nghe và rao truyền danh Chúa huyền diệu biết bao trên khắp trái đất (...).
Mà lại để Lời Thiên Chúa thâm nhập dễ dàng hơn tới tận cùng Hoàn cầu, nơi người Đông- kinh và Cô-sinh, tức là tất cả mọi người An Nam đang chiếm cư, thì bây giờ lòng đại lượng bao la của quý vị cũng truyền lệnh thực hiện quyển từ điển của dân tộc An Nam, một quyển từ điển giúp ích cho những người làm công tác tông đồ được chỉ định cho phần vườn nho này của Chúa, hầu họ hiểu biết phương ngữ xa lạ của người An Nam, tức là để những mầu nhiệm Thiên Chúa được giãi bày cho người An Nam, đồng thời cũng để người An Nam vừa làm quen với chính Đức tin Rôma và Tông đồ, vừa làm quen với phương ngữ Rôma và Latinh. Ai mà không thấy việc đó trong tương lai có lợi là chừng nào cho công cuộc truyền bá đức tin của Chúa Kitô được rộng rãi và chắc chắn hơn”.
Và ông lại phản bác mục đích tốt lành ấy:
“Lời lẽ của chính đương sự rõ như ban ngày: A. de Rhodes làm sách bằng chữ Quốc Ngữ là để phụng sự cho việc truyền bá Đức tin Kitô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Người Việt Nam đã tận dụng chữ Quốc Ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hoá dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện “gậy ông đập lưng ông” mà thôi”.
Như vậy đối với ông, và đối với xã hội của ông, đã xoay ngược mục đích ban đầu của chữ Quốc Ngữ truyền giảng Tin Mừng trở thành vũ khí của cách mạng lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp.

Bước kế thừa của Cha Ông
Là những tín hữu của Chúa Kitô, của Đạo Gia Tô, cha ông ta đã trung thành sử dụng chữ Quốc Ngữ cho công cuộc truyền giáo. Nhà thơ, nhà biên khảo Lê Đình Bảng, trong Bộ sưu tập “Ở Thượng nguồn Thi ca Công giáo”, đã để lại cho chúng ta bộ sưu tập quý giá về việc cha ông ta sử dụng chữ Quốc Ngữ đúng mục đích ban đầu.
- Những tác phẩm, tác giả thơ Công giáo trong kinh nguyện, điển hình:
a. Thánh Giáo Kinh Nguyện. Mục Lục Nhựt Khoá. Toàn Niên Kinh Nguyện
b. Tác giả - tác phẩm: Thầy giảng Phanxicô, Phạm Trạch Thiện, Vũ Đức Trinh, Vũ Ngọc Bích, Đỗ Minh Lý.
- Những tác phẩm Thơ Công giáo trong ký ức dòng đời: Philipphê Bình, Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ, Petrus Ký, Paulus Của, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Bá Tòng, Mai Lão Bạng, Phúc Dân, Nguyễn Ngọc Quang.
- Những tác phẩm Thơ Phúc Âm Diễn Ca: Lữ Y Đoan, Tống Viết Toại, Gerard Gagnon (Nhân), Mai Lâm, Trần Đức Huân, Long Giang Tử, Nguyễn Thế Thuấn, Nguyễn Xuân Văn.
- Những tác phẩm Thơ Huấn Ca: Phan Văn Minh, Trần Lục, Hồ Ngọc Cẩn, Trần Văn Trang, Lê Thiện Bá, Đoàn Văn Hàm, Trần Văn Thi.
- Những tác phẩm Thơ trong Thánh Ca: Phaolô Qui, Phaolô Đạt, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Văn Vinh, Hùng Lân, Hải Linh, Nguyễn Khắc Xuyên, Duy Tân, Ngô Duy Linh, Huyền Linh, Tiến Dũng, Hoài Đức, Hoài Chiên, Văn Thao, Trần Đình Nam, Hoàng Ngô, Vinh Hạnh, Hoàng Kim, Viết Chung…
- Những tác phẩm Thơ kinh Cầu nguyện: Hàn Mạc Tử, Nguyễn Văn Thích, Hồ Dzếnh, Bàng Bá Lân, Phạm Đình Tân, Đỗ Đình, Bùi Tuân, Nguyễn duy Diễn, Vũ Đình Trác, Ngọc Minh, Trần Thị Hoa, Lê Minh Bình Dương
Và cụ thể những tên tuổi gần đây: Lm. Xuân Văn với gần 10.000 câu thơ lục bát “Sứ điệp Tình thương”, Đức ông Xuân Ly Băng, Lê Đình Bảng, Trăng Thập Tự… và bộ sưu tập 100 nhà thơ Công giáo đang hình thành cho kịp chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hàn Mạc Tử. Trong đó có thể có một vài anh chị em đang có mặt nơi đây.
Chữ Quốc Ngữ hiện tại, văn học hiện đại
Có thể thấy, những năm gần đây, sự sa sút của môn tiếng Việt tại các trường học, trên mạng, trên báo chí, trên các phương tin thông tin, ngay cả trên những băng-rôn, biểu ngữ… đã đến hồi báo động: mất gốc, vong bản.
Kể từ những sai sót, mất gốc trong cách viết, đến việc sử dụng dấu chấm câu, đến việc thơ văn từ hình thức đến nội dung cũng có những chiều hướng cách tân mà các thế hệ sử dụng tiếng việt nguyên tuyền khó mà chấp nhận được.
Nhà thơ Trần Vạn Giã nhận định về thơ Việt Nam hiện nay:
“Thơ Việt Nam hiện nay như thế nào?
Ngoài thơ của những nhà thơ đã đi vào lòng độc giả, tình hình thơ và sáng tác thơ những năm gần đây thật là “hỗn loạn” và “phức tạp”. Hiện nay ở Việt Nam có một Hội ở trung ương là Hội Nhà văn Việt Nam, gồm khoảng 800 nhà văn, nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu và phê bình văn học; mỗi tỉnh có một Hội Văn học Nghệ thuật, trong đó có chuyên ngành thơ, chưa kể các CLB thơ ở khóm, phường, thôn, xã, thị trấn và cũng chưa chưa kể 5, 7 người hoặc nhiều hơn, cùng nhau thành lập nhóm thơ.
Người người làm thơ
Nhà nhà làm thơ
Có tiền là có quyền in thơ, miễn là thơ không có nội dung chống Nhà nước, dù thơ dở, thơ chưa qua nước cản, vẫn được phép xuất bản. Tôi xin nói thêm vấn đề xuất bản thơ hiện nay. Trước đây các Sở VHTT địa phương được quyền cấp giấy phép xuất bản, nay thì do các Nhà Xuất Bản trung ương cấp giấy phép (ngoại trừ một vài thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn…). Bằng mọi cách, tác giả chạy chọt để được in thơ không chất lượng. Mỗi năm có cả ngàn tập thơ xuất bản, trong đó thơ dở chiếm tỷ lệ cao, góp phần làm nhiễu loạn thơ trên mặt bằng VHNT ở đất nước ta. Bởi thế, những năm gần đây người ta đùa cợt rằng: Không có việc gì làm thì mới làm thơ.
Và xã hội truyền miệng câu:
“Ngày xưa em bán bánh canh
Bây giờ thất nghiệp nên thành nhà thơ
Nghĩ em là đứa ngu ngơ
Làm giàu thì khó làm thơ dễ òm!”
(Dân gian truyền miệng những năm gần đây)
Với thế hệ trẻ học thức, đây là một thử thách lớn, khi ngôn ngữ đang vào cảnh lâm nguy, và việc cứu vãn một thế hệ ngôn ngữ không là chuyện dễ nếu không nói phải làm lại từ đầu.
Ngay trong nội bộ Hội Nhà Văn Việt Nam cũng có người yêu cầu xét lại những vấn đề. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp (Tướng Về Hưu, 1988 Chảy đi sông ơi, Chút thoáng sông Hương, Chăn trâu cắt cỏ…) trong bài “Trò chuyện với hoa thuỷ tiên và những nhầm lẫn của nhà văn”, Tạp chí Ngày Nay, Hà Nội, số 6, 15-3-2004, viết: “Nhìn vào danh sách hơn 1.000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta đều thấy đa số đều chỉ là những người già nua không có khả năng sáng tạo và hầy hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ, tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả”.
Những nhận định của Nguyễn Huy Thiệp về văn học gây nên cuộc bút chiến, báo chiến sôi nổi, dữ dội.
Người chấp nhận, kẻ thì không. Nhưng dẫu sao, đó cũng là một nhận định có sơ sở.
Là những người ngoài cuộc của Hội Nhà văn, và là người Công giáo, chúng ta có thể hiểu được phần nào lý do dẫn đến hiện tượng danh sách nhà văn thì nhiều, mà tác phẩm có giá trị thì ít.
Nếu cốt truyện của một truyện dài, truyện ngắn hay nội dung của một bài thơ không thăng hoa con người ta tới cõi nhân linh hoàn hảo, hay không mặc lấy được một chút thần tính siêu phàm của một hữu thể có linh hồn thiêng liêng bất tử, thì rõ ràng, tác phẩm ấy cũng phù du như kiếp con người của tác giả.
Bởi đâu? Bởi đã và đang có một giai đoạn khá dài kể được là vài chục năm con người ta không muốn nhìn nhận sự thấp hèn của mình, mà tự tôn tự phong cho mình là thượng đế, dù chỉ là thượng đế của một thoáng chóng vánh trong cuộc đời. Niềm tin không có chỗ dựa vững bền vì niềm tin ấy đặt vào những giá trị hư ảo. Từ đó, sự dối gian lên ngôi thay cho những gì là chân thật, chuẩn mực đạo đức là điều lệ con người tự đặt ra sao cho phù hợp với mối lợi thực dụng một kiếp đời, vẻ đẹp của con người là sự giả tạo cần thiết mang tính khoe khoang chảnh choẹ cho hơn người hơn đời. Không còn Chân, không còn Thiện, không còn Mỹ, chỉ còn lại cả trăm “vô”: vô luân thường, vô đạo lý, vô nhân nghĩa,… và cuối cùng là vô phúc!
Có người lo lắng viết: “Vô đạo đức dang trở thành dân tộc tính”. Tháng 9-2010, trong lễ trao giải cuộc thi “Văn học tuổi 20” ở TP. Hồ Chí Minh, nhà văn nữ, trẻ, Hải Miên, đoạt giải 3, đã phát biểu như sau:
“Chúng ta đang sống trong một thời đại đổ vỡ, nơi khủng hoảng những giá trị, những niềm tin va đập không ngừng, cùng những cách nhìn về xã hội Việt Nam trong giai đoạn những giá trị chuẩn mực thì đã cũ, còn những giá trị mới thì chưa hình thành. Sống trong giai đoạn như thế đôi khi có cảm giá không còn điều gì thiêng liêng, nguyên vẹn, và có cảm giác đau đớn. Tôi nương vào chữ để mở cửa thoát hiểm cho mình”. (TVC)
Sứ mệnh của chúng ta, trong cơn khủng hoảng
Là một người Công giáo với ơn gọi Tiên tri được nhận lãnh qua Bí tích Rửa Tội, với ơn gọi đặc biệt khi được Chúa ban khả năng vốn học, vốn viết và vốn quý chuộng di sản của Cha Ông: chữ Quốc Ngữ và Đức tin Công giáo, thiết tưởng, đã đến lúc khôi phục mục đích ban đầu của chữ Quốc Ngữ cho xứng với hồng ân cao cả.
Chắc chắn chúng ta sẽ không có những tác phẩm “dựa vào “cảm hứng” để tuỳ tiện viết ra những lời lẽ du dương phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng”.
Bởi lẽ, chúng ta có một nguồn cảm hứng mà chúng ta tin là không chỉ bất tận, không chỉ vĩnh cửu, mà còn là luôn luôn mới ở mọi thời, mọi nơi, luôn luôn mang lại bình an và hạnh phúc cho cả người viết lẫn người đọc. Nguồn cảm hứng ấy chính là Thiên Chúa, là tình yêu Thiên Chúa, là chân lý của Thiên Chúa là Lời Chúa, là Kinh Thánh, là Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền…
Mỗi chúng ta nơi đây, dù ở tuổi nào cũng mang một trọng trách không thể chối cãi: dùng chữ Quốc Ngữ để Lời Chúa thấm nhập vào thế gian, để công lý và hoà bình tái ngự trị trong đất nước, ngay cả khi thế gian không đón nhận, chối bỏ, hoặc cấm cản bức bách, bóp nghẹt tiếng mời gọi hoàn lương, hoàn thiện.
Cuộc khủng hoảng văn hoá, văn học hiện thời, cách nào đó đang tố cáo chúng ta về tội dững dưng trước những suy đồi tận căn tính của một giai đoạn con người không cần đến tôn giáo, không đến Thiên Chúa, không cần đến đạo đức, tình yêu và những giá trị siêu việt hơn cái “ba vạn sáu ngàn ngày” chóng vánh!
1-10-2011
PM. Cao Huy Hoàng
***
Bài bổ sung
VAI TRÒ NGƯỜI KẾ THỪA


Đặc điểm của kế thừa: Liên tục - Trọn vẹn - Phát huy.
Tuy nhiên, do thời cuộc, chúng ta đã không có được những điều kiện đó. Không thể phủ nhận tình trạng gián đoạn của Văn học Công giáo Việt Nam trong thời gian qua. Mấy ai được đọc các tác phẩm của Lê Đình Bảng, Phạm Đình Khiêm, Võ Long Tê, Trăng Thập Tự…? Mấy ai hiểu được các điển tích, điển cố trong thơ Hàn Mặc Tử? Mấy ai cảm nhận được ý nghĩa Tin Mừng trong Thơ - Văn Công giáo trước đây và hiện nay?
Rất may, với Văn - Học Công giáo, chúng ta có Thánh Linh soi sáng và dẫn đường. Có thể nói, nhược điểm trên có thể tác động lớn đối với nhiều nền văn học khác, nhưng với Văn học Công giáo thì hoàn toàn có thể khắc phục nhờ vào Thánh Thần Chúa, nhờ vào ơn mạc khải. Theo nhận định chung, thì cứ 3.000 người đọc mới có 1 người viết. Với Văn học Công giáo Việt Nam hiện nay, tỷ lệ đó thấp hơn nhiều. Có lẽ chỉ khoảng 1/1000 hoặc thậm chí còn ít hơn. Tuy nhiên, điều đó không thể hiện ưu điểm mà chỉ nói lên sự suy thoái của Văn hoá Đọc.
Những tác giả Văn học Công giáo hiện nay phần lớn là tự phát cộng với một chút cơ duyên. Một số đầy ắp tâm tình nhưng diễn đạt thiếu mạch lạc, một số thi tứ dồi dào nhưng thiếu Tin Mừng, một số khác viết quá dè dặt nên không khỏi hạn chế… Nhưng chắc chắn một điều, vẫn luôn có những cây bút vững vàng, sâu sắc, phong phú. Chỉ tiếc rằng, những tác giả đó còn ít quá! Thực tế đó cho thấy chúng ta chưa có kế hoạch kế thừa nền Văn học Công giáo một cách có hệ thống mà chỉ là ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên cũng đem lại một số thành quả nhất định nhưng chắc chắn sẽ không bền vững và được như mong muốn.
Chúng ta không thể cứ ngồi chờ Ơn Thánh Linh mà phải tích cực cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa, vào công cuộc rao giảng Tin Mừng bằng ngòi bút. Chúa ban cho mỗi người số nén bạc khác nhau, vì thế, không nên ganh tị hay “bút chiến”, mà phải giúp đỡ nhau xây dựng và khôi phục nền Văn học Công giáo Việt Nam ngày một khởi sắc. Cùng nhau xây dựng một cách có hệ thống về kế hoạch kế thừa của chúng ta:
1. Khôi phục Văn hoá Đọc ở từng đơn vị Giáo hội (giáo xứ, giáo họ, dòng tu, chủng viện, đoàn thể…) bằng cách mở những cuộc thi tìm hiểu Thánh Kinh, Hạnh Các Thánh, Đạo Hiếu, tư tưởng nhân văn…
2. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, khích lệ và phát huy các cây bút thiếu nhi, thiếu niên trong từng giáo xứ.
3. Tổ chức các khoá bồi dưỡng Thần học, Tín lý và tìm hiểu Văn học Công giáo (tặng sách)… cho anh chị em cầm bút.
4. Tổ chức theo hệ thống giáo xứ, giáo hạt, giáo phận để các tác giả được chính thức tham gia các hoạt động Văn học Công giáo trong giáo phận mình theo từng cấp.
5. Có kế hoạch xuất bản sách, truyện, thơ Công giáo để phát hành đến từng giáo xứ… Điều này giúp ổn định và nuôi dưỡng các cây bút Công giáo.

Pio X Lê Hồng Bảo

Cách thỨc loan báo tin mỪng cho ngưỜi viỆt nam hôm nay

Cách thỨc loan báo tin mỪng cho ngưỜi viỆt nam hôm nay

1. TRUYỀN GIÁO TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ KHỨ
Đã có một thời người ta coi việc truyền giáo như là việc thay cũ đổi mới, một cuộc cách mạng để gạt bỏ một lối sống cũ để thay vào đó một lối sống mới phù hợp với Tin Mừng. Thế nên, việc rao giảng Tin Mừng đã không đem lại kết quả là bao, có khi trở thành phản chứng trong môi trường truyền giáo. Đó cũng là bi kịch đã diễn ra tại việt nam vào thời gian đầu của việc truyền giáo. Trong quá khứ, Giáo hội Việt Nam đã trở thành một tà đạo đối với dân tộc. “Điểm then chốt ở đây là: Giáo Hội chưa thích nghi để hội nhập văn hoá, để diễn tả niềm tin theo ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam. Giáo Hội đã có thời kỳ gạt bỏ tất cả những lề thói, tập tục của văn hoá Việt Nam như thờ kính tổ tiên, tôn thờ thần hoàng, hay các anh hùng dân tộc... điển hình như lệnh cấm đầu tiên vào năm 1704 thời ĐTC Clemens XI, năm 1715, Tông chiếu Ex Illa Die nhắc lại những điều cấm và kèm thêm bản tuyên thệ phải từ bỏ lễ nghi Trung Hoa. Tại Việt Nam, ở Giáo phận Đàng Trong, các cha Dòng Tên đã phản đối và vẫn cho phép làm những việc trước đây nên có sự căng thẳng giữa các Cha Dòng Tên và vị đại diện Toà Thánh. Cuối cùng, ĐTC Benedictus XIV ra Tông chiếu Ex quo singulari năm 1742 giải quyết dứt khoát vấn đề lễ nghi Trung Hoa. Năm 1773, Dòng Tên bị giải thể và mãi đến năm 1814 mới được phục hồi.
Điều đó dẫn đến nhiều người Việt Nam không dám theo đạo vì sợ bất hiếu, bất trung với tổ tiên và dân tộc. Phải gần 200 năm sau, trong đường hướng cởi mở đối với các vấn đề về xã hội được ĐTC Leo XIII khởi đầu qua Thông điệp Rerum Novarum (1891) và ĐTC Pius XII qua các thông điệp như Mystici Corporis (1943), Divino afflante spiritu (1943), Thánh Bộ Truyền bá Đức tin mới cho rằng lễ nghi tôn kính tổ tiên và đức Khổng Tử chỉ có tính cách xã hội. Năm 1939, Thánh bộ công bố Huấn thị Plane compertum est về vấn đề này. Năm 1965, HĐGMVN mới có thông báo cho phép những hình thức tôn kính tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ cho giáo dân Việt Nam” (Lm. Nguyễn Ngọc Sơn).
Thế nên, việc tìm ra một phương thế loan báo Tin Mừng cho phù hợp với hoàn cảnh với thời đại đó là điều mà toàn thể Giáo Hội đang quan tâm và đang cùng với Chúa Thánh Thần để tìm ra một giải pháp thích hợp nhất cho thời đại hôm nay. Trong kỳ họp THĐGM Á châu, các Đức Giám mục đã đưa ra một phương thế đối thoại trong tôn trọng để qua đó đưa Tin Mừng vào trồng trong chính nền văn hoá cụ thể. Các ngài đã khẳng định: “Để cống hiến cho họ Tin Mừng cứu độ, Giáo Hội cố gắng tìm hiểu văn hoá của họ. Giáo Hội tìm cách để nhận biết não trạng và tâm hồn của người nghe, những giá trị và tập quán, những vấn đề và khó khăn, những hy vọng và ước mơ của họ. Một khi biết được và hiểu được những khía cạnh khác nhau này của văn hoá, Giáo Hội có thể bắt đầu cuộc đối thoại cứu độ” (Giáo hội Á châu, số 21).
2. CHÚA GIÊSU MẪU GƯƠNG TRUYỀN GIÁO
Việc hội nhập văn hoá không phải là điều mới mẻ, nhưng đó chính là cách Chúa Giêsu đã thực hiện trong cuộc đời rao giảng của mình. Nhìn lại cuộc đời truyền giáo của Chúa Giêsu, chúng ta thấy sự hiện diện của Ngài không trở nên khác thường giữa mọi người và Ngài cũng không làm cho môi trường hay hoàn cảnh đó vượt lên bình thường. Trong tiệc cưới Canna, Ngài đã hoá nước thành rượu để cho tiệc cưới được bình thường, được trọn vẹn niềm vui. Tiệc cưới đang vui bỗng hết rượu, Chúa Giêsu đã biến nước thành rượu, nghĩa là Ngài làm cho tiệc mừng đó được diễn ra bình thường, không gây xáo trộn, không mất vui vì hết rượu. Và nhất là trong cuộc sống dương gian của Ngài, Chúa Giêsu đã sống như bao con người. Ngài đã mang lấy xác phàm giống như con người, ngoại trừ tội lỗi. Ngài cũng mang lấy một dòng máu, màu da và chịu ảnh hưởng của một nền văn hoá cụ thể là văn hoá Do Thái, đến nỗi người ta có thể nhận ra Ngài là một người Nazareth, con của một người lao động tên là Giuse. Nhìn vào cung cách sống của Chúa Giêsu, chúng ta có thể nhận ra Ngài đã hoàn toàn tự huỷ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa để sống một cuộc đời như bao người đồng hương với Ngài. Ngài đã tự nguyện đi sâu vào những thăng trầm của đời người để từ đó Ngài khai mở cho nhân loại một hướng đi mới dựa theo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa. Ba mươi năm sống đời ẩn dật là thời gian đủ để Ngài hiểu được những ưu tư, trăn trở, lo lắng trong kiếp sống con người. Ba mươi năm sống giữa gia đình, thôn xóm là thời gian đủ để những nét đặc thù của văn hoá Do Thái thấm nhuần trên con người của Ngài. Thế nên, những lời Ngài rao giảng luôn được khởi đầu từ những dụ ngôn, những biến cố, những câu chuyện mang đặc tính văn hoá của dân tộc Do Thái, nhờ đó những giáo huấn của Ngài trở thành chân lý soi dẫn cho chính cuộc sống của họ.
Khi hoàn tất sứ mệnh của mình, Chúa Giêsu đã thiết lập Giáo Hội ở giữa nhân loại, cùng đồng hành trong lịch sử nhân loại qua đó tiếp tục sứ mệnh của Thầy Chí Thánh Giêsu đem Tin Mừng cứu độ đến khắp cùng bờ cõi trái đất. Giáo Hội phải bước theo con đường Thầy mình là hoà nhập vào đời sống trần thế, là đem Tin Mừng gieo vào mọi hoàn cảnh và mọi nền văn hoá khác nhau của các châu lục, đồng thời nhận ra những dấu chỉ cụ thể của thời đại để hoàn thành sứ mạng của mình giữa trần thế.
3. THƠ văn giúp gì cho công CUỘC rao GIẢNG Tin MỪNG
3a. Kinh nghiệm lịch sử Việt Nam về vai trò của tư tưởng và rao giảng
Với con người, ý tưởng và hành động đi đôi như hình với bóng. Tư tưởng có thông, hành động mới vững. Cái đầu giúp cánh tay để hành động và cánh tay giúp cái đầu để hoạch định. Lịch sử nước nhà dạy ta bài học sức mạnh đến từ chính nghĩa song song với sự vận dụng khéo léo những gì có trong tầm tay. Việc động viên lòng người đời xưa đã đạt mức nghệ thuật. So sức với quân nhà Tống, xâm lăng nước ta vào thế kỷ 11, quân Nam như châu chấu đá xe mà xe phải nghiêng ngả… Thành công thần kỳ ấy nhất thiết nhờ vào khí phách của Lý Thường Kiệt truyền qua tuyên ngôn “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư”.
Hai cuộc chiến vệ quốc chống quân Nguyên, thế kỷ 13, vẻ vang chiến thắng dưới sự chỉ huy của dũng tướng Trần Hưng Đạo. Tướng quân đã truyền hào khí non sông qua “Hịch Tướng Sĩ”:
Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được xả thịt lột da quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng…”.
Tuyên cáo hùng tráng “Bình Ngô Đại Cáo”, thế kỷ 15, xuất phát tự tân não của vua Lê Lợi và quân sư Nguyễn Trãi, một đàng phô bày nỗi khuất tất cay cực mà quân Minh ngoại bang áp bức bóc lột dân lành, đàng khác tuyên cáo chính tất thắng của quân Nam:
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối
Phần vì giận quân thù ngang dọc
Phần vì lo vận nước khó khăn…
Nhân dân bốn cõi một nhà, đựng can trúc ngọn cờ phất phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều…
Đem lại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo…”.
3b. Văn chương biểu lộ tâm hồn, đi vào lòng người, dọn đường Tin Mừng
Cổ nhân nói “Tổ quốc hưng vong, sĩ phu hữu trách”, người trí thức mang nặng trách nhiệm hưng vong đối với dân tộc tổ quốc mình. Hội nhà văn phần nào tiêu biểu cho lớp sĩ phu, thời gian này thường tự chất vấn tại sao chúng ta không “sinh đẻ ra được những tác phẩm lớn?”. Tại sao một tác phẩm vừa phát hành đã vội bị quên lãng? Và ta cũng có thể hỏi do đâu có những tác phẩm vượt qua mệnh yểu và trường thọ? Tại sao nguời ta đọc mãi “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi mà vẫn tìm thấy trong đó thần hứng? Tại sao khắp thế giới người ta nôn nao tìm thưởng thức “Thằng gù Nhà thờ Đức Bà” của Victo Hugo?... Tôi thiết nghĩ tác phẩm trường thọ có tính triết lý, nghĩa là có cái hay, cái đẹp… cái tầm để nâng cao cái tâm và nó sẽ sống mãi với cõi đời. Nơi Nguyễn Trãi bừng khí thiêng sông núi, nơi Nguyễn Du “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”… đó là cái quý báu làm cho người ta sống và người ta chạy đi tìm kiếm…
Gắn bó hữu cơ với giá trị nội dung là sự khéo léo nhuần nhuyễn sử dụng ngôn từ. Cái hay cái đẹp lại được gói ghém khéo léo thì ai cũng thèm cũng mê. Nó nhập hồn ta và cứ khiến ta bận tâm.
Cha ông ta xưa đã khoé léo vận dụng thơ văn để khuyên răn, dạy dỗ con cái. Những vần thơ, những câu ca dao nặng tính triết lý đã đi sâu vào lòng người. Ta thử hỏi có ai là người Việt Nam lại không thuộc, không hiểu đạo lý làm con phải hiếu qua câu thơ:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ kính mẹ cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Hay khi nói về tình mẹ, cha ông ta thường ví như cái gì đó rất ngọt ngào, thơm ngon:
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau”.
Người xưa con dùng thơ văn để nói lên nỗi lòng của mình. Chúng ta thử nghe một câu ca dao đơn sơ:
Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”.
Ta có thấy lòng mình xót xa cái “thân em” không? Quả thực:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.
Ta cứ thấy niềm mơ ước tấm lụa ấy…
Ca dao ra đời và tồn tại là để đáp ứng những nhu cầu bộc lộ tình cảm của con người. Bên cạnh những bài ca về yêu thương tình nghĩa thì những lời than thở về cuộc đời đau khổ, đắng cay cũng là một đề tài rất tinh tế trong hệ thống ca dao dân ca Việt Nam. Đó là những lời than thân trách phận, tâm tư tình cảm của những con người lao động và họ đã mượn hình ảnh con cò để bày tỏ nỗi lòng của mình.
Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi vào,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Chớ xáo nước đục, đau lòng cò con”.
Hình ảnh ẩn dụ “nước trong”, “nước đục” đã gợi cho chúng ta biết cò là một người rất trọng danh dự. Nếu phải chết, cò muốn chết trong “nước trong” - chết trong danh dự chứ không phải là “nước đục” - một sự tượng trưng cho tai tiếng, nhục nhã và đầy hổ thẹn. Lời của cò còn thể hiện được những khao khát, những nỗi niềm khác nhau. Cò muốn được sống để có thể lo cho con, cho gia đình. Tiếng kêu của nó chân thành, gấp gáp giống như tiếng kêu của một sự cầu cứu. Dù sắp chết nhưng cò vẫn nghĩ đến lương tâm, trách nhiệm của mình đối với các thế hệ con cháu đời sau. Cò sợ đời sau xấu hổ, tủi thân, phải mang tiếng xấu với đời. Qua lời cò, câu ca dao đã đề cập đến người bình dân Việt Nam rất trọng danh dự, luôn có trách nhiệm với thế hệ sau.
Thi hào Nguyễn Du đau đời và thương người, thương da diết và đau phận “nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương” của nàng Kiều:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân…”
“Tiếc thay nước đã đánh phèn
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần”.
Đã thất thân, giữa chốn thanh lâu, Kiều thở than, lời than thở mấy ai hiểu thấu?
“Người yêu ta xấu với người
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau…”
“Một mình âm ỉ canh chầy,
Dĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh”.
Ôi Thôi!
“Xót thay chiếc lá bơ vơ
Kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong
Hoa trôi nước chảy xuôi dòng
Xót than chìm nổi, đau lòng hợp tan”.
Kết tập truyện thơ, Cụ Nguyễn Du bộc bạch:
Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh…”.
“Lời quê”, Cụ quá khiêm tốn mà nói thế, những lời ấy chẳng còn là quê nhưng rất thần kỳ, đi sâu vào tậm hồn khiến ta phải nặng lòng... Mấy ai diễn thành những “lời quê” như thế ấy… cho hậu thế mãi mãi ngẫm nghiền?
Cách đây mấy thập niên việc học giáo lý hoàn toàn dựa vào thơ ca. Chính những vần thơ đã đi vào lòng người những giá trị của Kitô giáo. Chính những vần thơ đã giúp cho các tín hữu hiểu và sống đạo. Như bài thơ CÓ THIÊN CHÚA mà mỗi người chúng ta từng đã thuộc nằm lòng:
Có thợ thì mới có nhà
Nếu không có thợ hỏi nhà đâu ra
Nhìn xem trời đất bao la
Trăng sao sông biển cỏ hoa núi rừng
Chòm cây chim hót vang lừng
Mặt trời gieo ánh tưng bừng sáng tươi
Bao nhiêu cảnh sắc tuyệt vời
Quyết rằng cũng phải có người dựng nên
Ấy là Thiên Chúa chớ quên
Suốt đời yêu mến ngày đêm kính thờ.
Hoặc những bài thơ đã được phổ nhạc càng đi vào lòng người và giúp cho việc dạy giáo lý càng hiệu quả hơn như:
Ai cho hoa trái chín ngon trên cành cây.
Ai cho tinh tú sáng soi trên bầu trời
Chính Chúa dựng nên muôn sao lấp lánh
Chính Chúa ban trái ngọt chín thơm trên cành.
Kết
Kinh nghiệm cuộc sống cho thấy nhiều người đã đổi đời nhờ gặp một cuốn sách, một lời dạy thấm thía, nhất là gặp được một tấm lòng… Sao ta không cố gắng rèn luyện từ con tim luôn sẵn sàng những lời tao nhã, những cử chỉ nhân văn làm máng chảy truyền thông sức sống thần linh cao quý. Nhất là biết vận dụng những vần thơ, những áng văn để diễn tả tình yêu của Chúa cho nhân trần, để loan báo Tin Mừng đến cho muôn loài.
Ước mong CLB Đồng Xanh Thơ của chúng ta luôn được Thần Khí Chúa hướng dẫn để biết chuyển tải Tin Mừng của Chúa qua thơ văn như những món ăn ngon đến cho mọi người.


Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2011

Giá trị của những người mẹ

Giá trị của những người mẹ
Tiến sĩ Donald DeMarco


Tục ngữ Do Thái có câu: “Thiên Chúa không thể ở mọi nơi, nên Ngài đã tạo dựng những người mẹ” (God could not be everywhere, so He made mothers). Đây là tình cảm lâu dài và tốt đẹp. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng nhờ đảo ngược câu nói mà chúng ta đến gần chân lý hơn: “Thiên Chúa có thể ở mọi nơi và chúng tỏ điều đó bằng cách tạo dựng những người mẹ” (God could be everywhere and proved it by creating mothers). Hình ảnh này phù hợp với nhận xét của tiểu thuyết gia Hoa Kỳ William Makepeace Thackeray, trong cuốn Vanity Fair (Hội chợ Phù phiếm): “Mẹ là danh xưng đối với Thiên Chúa trên những đôi môi và trong những trái tim của những người con bé bỏng”.
Người mẹ không thể thay thế Thiên Chúa, nhưng hành động như người trung gian chuyển lòng nhân từ của Thiên Chúa sang những người khác. Dĩ nhiên, người ta có thể phản bác rằng người cha cũng làm điều này. Điều này đủ mức thật. Nhưng có điều gì đó trong đặc quyền về cách thức mà người mẹ bộc lộ sự hiện hữu của Thiên Chúa. Theo cách mầu nhiệm nào đó, điều đó như thể người mẹ có được vậy, một kinh nghiệm đối diện của Thiên Chúa. Điều này có thể đáng hoan nghênh hơn nếu chúng ta hiểu vai trò của Đức Mẹ là nguyên mẫu tâm linh của mọi người mẹ.

ĐGH Bênêđictô XVI đã nhận xét về Đức Mẹ: “Mẹ giữ trong lòng bí mật làm Mẹ Thiên Chúa, là người đầu tiên được thấy Thiên-Chúa-làm-người, hoa trái của lòng mẹ”. Khái niệm về việc Đức Mẹ là người trần tục đầu tiên Mary thấy Thiên Chúa vừa gây ngạc nhiên vừa soi sáng. Là mẫu gương của những người mẹ, kinh nghiệm này gồm cả bản chất làm mẹ và mẫu gương của các phụ nữ đã từng sinh con.
Nếu ông bà nguyên tổ coi Thiên Chúa là Cha nghiêm khắc theo cách nào đó, thì các thế hệ đều tôn kính Đức Mẹ là người hiền từ và dễ gần gũi. Nathaniel Hawthorne bày tỏ tình cảm này đẹp hơn trong cuốn Blithedale Romance khi ông viết: “Tôi luôn ganh tỵ với người Công giáo về đức tin của họ nơi Đức Trinh Nữ thánh thiện và ngọt ngào, Đức Mẹ đứng ở giữa họ và Thiên Chúa, che chắn sự chói lọi uy nghiêm của Ngài, nhưng cho phép Tình yêu Chúa tuôn đổ trên người thờ kính theo cách hiểu của con người qua vị trung gian của sự dịu dàng nữ tính”.
Thánh Augustinô nói rằng sự dịu dàng từ mẫu đặc biệt này có thể thấy ngay ở những con thú hung dữ – như người Việt nói: “Cọp dữ không ăn thịt con”. Ông nhận xét trong The City of God (Thành phố của Thiên Chúa): “Có con cọp cái nào không thương và không vuốt ve con nó?”. Ngược với câu tục ngữ Do Thái nói ở trên, chúng ta có thể ám chỉ câu tục ngữ Tây Ban Nha: “An ounce of mother is worth a ton of priests” (Tạm dịch: “Một lạng người mẹ đáng một tấn linh mục”)
Khái niệm về “sự nhiệt thành” đã thôi miên người Hy Lạp cổ đại. Thế giới không thể là một nơi, như Democritus ước đoán, không có gì hơn một số nguyên tử không thể đếm xuất hiện trong rất nhiều hình thể. Nghĩa là có thể tính toán đối với sự nhiệt thành tìm được sự hưng phấn và niềm vui trong kinh nghiệm sống bằng cách nào? Sự hưng phấn là hoạt động tâm linh không thể giải thích bằng vật chất. Người ta đã nghi ngờ nhiều thứ: nhân đức, chân lý, kiến thức, và ngay cả tình yêu. Nhưng không ai có thể nghi ngờ thực tế khả nghiệm của sự hăng hái. Thế giới hiện đại của chúng ta vẫn liên kết với sự thấu hiểu này của người Hy Lạp cổ đại. Từ ngữ “sự nhiệt thành” theo tiếng Hy Lạp là enthusiasmos, được rút từ chữ entheos có nghĩa là “được Thiên Chúa sở hữu” hặc “được Thiên Chúa linh ứng”.
Người Hy Lạp tin rằng một người có thể hít thở bằng cuộc sống của Thiên Chúa, người đó có thể là người đem đến tinh thần của Ngài. Họ tin rằng con người có thể là “bình chứa” đối với Thiên Chúa. Một trong những từ đối với sự sống là zoe, không ám chỉ sự sống rộn ràng trong mỗi người, mà nói đến sự sống có thể được chia sẻ với người khác. Khái niệm này về sự sống là nền tảng không thể thiếu đối với khái niệm của Kitô giáo về sự sống của Thiên Chúa, hoặc ân sủng, điều có thể chia sẻ trong chúng ta, và với Mẹ Maria và những người mẹ theo cách đặc biệt. Đời sống của Đức Mẹ với Chúa Con là sự sống cao tới mức ưu việt.
ĐHY Joszef Mindszenty, người can đảm bảo vệ Giáo hội trong thời gian cộng sản chiếm lĩnh Hungary, đã dành tình cảm mạnh mẽ với cương vị người mẹ. Trong cuốn The Mother (Người Mẹ), ngài viết hùng hồn bày tỏ lòng tôn kính những người mẹ, nhấn mạnh sự gần gũi của họ đối với Thiên Chúa: “Người quan trọng nhất trên thế gian này là người mẹ. Bà không thể đòi hỏi lòng tôn kính của việc xây dụng Nhà thờ Đức Bà. Bà không cần. Bà đã xây dựng cái gì đó quan trọng hơn bất cứ nhà thờ nào – sự cư ngụ đối với một linh hồn bất tử, sự hoàn hảo gọn gàng của cơ thể đứa trẻ. Các thiên thần không được chúc lành bằng ân sủng như vậy. Các thiên thần không thể chia sẻ phép mầu sáng tạo của Thiên Chúa là đưa những vị thánh mới vào Tthiên Quốc. Chỉ có người mẹ khả thi. Những người mẹ gần gũi với Thiên Chúa Tạo Hóa hơn bất cứ sinh vật nào, Thiên Chúa liên kết các sức mạnh với những người mẹ trong việc sáng tạo. Còn gì vinh quang hơn là được làm mẹ?”.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ IntegratedCatholicLife.org)