Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời Chúa Hằng Ngày. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lời Chúa Hằng Ngày. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

THỨ 4 SAU CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN

THỨ 4 SAU CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN
NĂM LẺ
Rm 2,1-11 ; Lc 11,42-46



BÀI ĐỌC : Rm 2,1-11



1 Hỡi người, dù bạn là ai đi nữa mà bạn xét đoán, thì bạn cũng không thể tự bào chữa được. Vì khi bạn xét đoán người khác, mà bạn cũng làm như họ, thì bạn tự kết án chính mình.2 Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa cứ theo sự thật mà xét xử những ai làm những điều đó.3 Còn bạn, hỡi người xét đoán những kẻ làm những điều đó trong khi chính mình cũng làm như vậy, bạn tưởng mình sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét xử sao?4 Hay là bạn coi thường lòng Chúa vô cùng nhân hậu, khoan dung, đại lượng, mà không nhận ra rằng: Thiên Chúa nhân hậu như thế là để thúc giục bạn hối cải sao? 5 Thế nhưng bạn lòng chai dạ đá không chịu hối cải, và như vậy bạn càng làm cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa chồng chất trên đầu bạn, trong ngày Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và biểu lộ phán quyết công minh.6 Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm;7 những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời;8 còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ.9 Người sẽ bắt mọi kẻ làm điều ác phải gian nan khốn khổ, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp.10 Nhưng Người sẽ ban vinh quang, danh dự và bình an cho tất cả những ai làm điều thiện, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp,11 vì Thiên Chúa không thiên vị ai.

ĐÁP CA : Tv 61
Đ. Lạy Chúa, Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người. (c 13b)

2 Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn. Ơn cứu độ tôi bởi Người mà đến, 3 duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi, là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng.
6 Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, này hồn tôi hãy nghỉ ngơi yên hàn. Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến, 7 duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi, là thành luỹ chở che : tôi chẳng hề nao núng.
9 Hỡi dân ta, hãy tin tưởng vào Người luôn mãi, trước mặt Người, hãy thổ lộ tâm can: Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 10,27
Hall-Hall : Chúa nói : Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Hall.

TIN MỪNG : Lc 11,42-46
42 Khi ấy, Đức Giê-su nói : “Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ.43 Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người thích ngồi ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở nơi công cộng.44 Khốn cho các người! Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay."
45 Một người trong số các nhà thông luật lên tiếng nói: "Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa! "46 Đức Giê-su nói: "Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào.”

TRÁCH NHIỆM VỚI ĐỒNG LOẠI
Không ai có thể lên Thiên Đàng một mình, khi người ấy có khả năng quy tụ đồng loại về cho Chúa. Giáo huấn Công Đồng Vat.II trong Hiến Chế Hội Thánh số 9 dạy : “Chúa không cứu con người cách riêng rẽ thiếu liên kết”. Thế thì mọi người muốn được Chúa cứu độ, phải tìm cách cho đồng loại thuộc về Chúa. Bởi vì Chúa đã trao người anh em cho mỗi người chăm sóc : “Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: "Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết", mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó.Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình!” (Ez 33, 7-9). Vì “yêu hoa không có nghĩa là yêu cả con sâu nằm trong bông hoa, mà hãy tìm cách diệt con sâu ấy dù có phải làm rụng phấn hoa”. Muốn làm tròn bổn phận người canh gác đồng loại, mỗi người phải ý thức sống ba điều sau :
I/ Trước nhất phải có tâm tư như Chúa Giêsu (x Pl 2, 5), mới có con mắt nhìn đồng loại như chi thể của mình, vì : “Một chi thể đau, toàn thân phải đau ; một chi thể vinh, toàn thân được vinh” (1Cr 12,26). Thực vậy, không ai muốn lấy dao chặt ngay cánh tay ung nhọt của mình, trái lại tìm hết cách và kiên nhẫn nhẹ nhàng chữa trị nó.
II/ Thứ đến ý thức sự yếu đuối và bất lực của mình. Bởi lẽ nếu ta không được Chúa che chở, gìn giữ, nâng đỡ, thì thánh Tông Đồ nói : “Dù bạn là ai đi nữa mà bạn xét đoán, thì bạn cũng không thể tự bào chữa cho mình được. Vì khi bạn xét đoán người khác, mà bạn cũng làm như họ, thì bạn tự kết án chính mình.Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa cứ theo sự thật mà xét xử những ai làm những điều đó.Còn bạn, hỡi người xét đoán những kẻ làm những điều đó trong khi chính mình cũng làm như vậy, bạn tưởng mình sẽ khỏi bị Thiên Chúa xét xử sao? Hay là bạn coi thường lòng Chúa vô cùng nhân hậu, khoan dung, đại lượng, mà không nhận ra rằng: Thiên Chúa nhân hậu như thế là để thúc giục bạn hối cải sao Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tuỳ theo việc họ làm; những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; vì Thiên Chúa không thiên vị ai!” (Rm 2,1-4.6-7.11 : Bài đọc năm lẻ). Nên bất cứ ai biết kính sợ Chúa, phải thưa rằng : “Lạy Chúa, Ngài theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người” (Tv 62/61,13b : ĐC năm lẻ).
III/ Đặc biệt là ta phải noi theo mẫu gương sống của Chúa Giêsu. Do đó thánh Tông Đồ mời gọi mọi người : “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Chúa Kitô” (1Cr 11,1 – Bản văn CGKPV). Vì “ai nói mình ở lại trong Chúa, thì phải đi trên con đường Đức Giêsu đã đi” (1Ga 2,6). Vậy “chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv 62/61,2).
Tin Mừng hôm nay (Lc 11,42-46), Chúa Giêsu cảnh báo ta năm điểm để canh tân sửa đổi mình trước, trước khi sửa lỗi người anh em :
1- Đừng làm điều phụ mà bỏ bổn phận chính :
a. Về mặt đạo đức: Đừng bắt chước lối sống Đạo của những người Biệt phái, họ cặn kẽ giữ Luật nộp thuế thập phân vào Đền Thờ, kể cả vật nhỏ như “bạc hà, vân hương, rau húng, mà không dâng lên Chúa dạ chính trực lòng yêu mến Ngài !” (Lc 11, 42 : Tin Mừng).
b. Về mặt Đức Tin : Cho dù người ta dâng lên Chúa lễ vật quý giá như vàng, nhũ hương, mộc dược, hay lễ tế chiên, cừu, bò, lừa, mà không tin, không kết hợp với Chúa Giêsu qua Phụng Vụ, nhất là Thánh Lễ, để được Chúa Giêsu ở cùng giúp ta thi hành ý Cha trên trời, hầu trở nên một Của Lễ dâng lên Chúa Cha, thì đó cũng chỉ là lối sống của phường vô đạo! (x Dt 10,5-7)
2- Đừng cầu danh cho mình, một chỉ tìm vinh quang cho Thiên Chúa trước. Đừng quên Lời Kinh Thánh đã dạy : “Hãy để kẻ khác khen ngợi con, chớ không phải miệng con, một người xa lạ, chớ không phải môi con” (Cn 27,2), nên chớ “chuộng ngồi chỗ nhất trong hội đường, ưa được bái chào ngoài công trường” (Lc 11, 43 : Tin Mừng). Vì như thế là tự cao tự đại, lấy mình thay thế Thiên Chúa! Mà phải khiêm tốn nhận biết rằng :
Người đi không cầu có bóng, mà bóng vẫn theo
Người hô không mong tiếng dội, mà tiếng vẫn vọng.
Người có đức không đợi tiếng khen, mà danh vang lẫy lừng.
Nói cách khác : Đừng sợ người khác không biết tài đức của mình, một hãy lo cho mình có tài có đức thật.
3- Đừng sống trong u mê lầm lạc: “Nó như mồ mả ẩn tàng, thiên hạ dẵm lên mà không biết” (Lc 11,44 : Tin Mừng), hoặc “cái xà trong mắt mình thì không để ý, lại đòi lấy cái rác nơi mắt anh em ! Hãy liệu lấy cái xà nơi mắt mình trước đã, lúc ấy mới thấy rõ mà lấy cái rác nơi mắt anh em ngươi” (Mt 7,3-5). Chính Tông Đồ Phaolô khi bị đầu mục Do Thái đưa ra tòa xét xử, ông nói : “Vách tô vôi kia, Thiên Chúa sẽ đánh phạt ngươi! Ngươi ngồi toà để xét xử tội chiếu theo Lề Luật, thế mà các ngươi lại không đếm xỉa đến Lề Luật” (Cv 23,3-4). Vì “chúng ta chỉ nhìn bề ngoài, duy có Chúa mới nhìn thấu đáy lòng mọi người” (1 Sm 16,7).
Vua David đang an hưởng trong cung điện với vợ con, vì ở biên thùy đã có tướng Uria canh giữ, không để kẻ xâm lăng đến quấy phá. Thế mà vua David đã trùng lén ăn ở với vợ của Uria làm bà có thai. Vua muốn ém nhẹm tội này, nên lập mưu giết Uria để đoạt vợ ông. Chúa sai ngôn sứ Nathan đến trách khéo : “Có hai người ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo.
Người giàu thì có chiên dê và bò, nhiều lắm. Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông,nó ăn chung bánh với ông,uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông : ông coi nó như một đứa con gái. Có khách đến thăm người giàu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông. Ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người đến thăm ông” Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy và nói với ông Na-than : “Có ĐỨC CHÚA hằng sống ! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết ! Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi vì nó đã làm chuyện ấy và đã không có lòng thương xót.” Ông Na-than nói với vua Đa-vít : “Kẻ đó chính là ngài !” (2Sm 12,1-7a).
4- Đừng chỉ lý thuyết : “Chất những gánh nặng trên vai người khác, còn chính mình không đụng đến một ngón tay lay thử!” (Lc 11,45-46 : Tin Mừng). Phải bắt chước Chúa Giêsu : “Làm rồi mới dạy” (Cv 1,1). Hình ảnh này, tác giả Luca đã đặt ở câu đầu tiên trong sách Lịch Sử đời sống Hội Thánh thời sơ khai (Công Vụ Tông Đồ), để mọi Kitô hữu noi gương Chúa Giêsu (làm rồi mới dạy), có thế mới tiếp tục viết lên trang sử đẹp của đời sống Hội Thánh. Thánh Phaolô cũng trách những hạng người nói mà không làm : “Ngươi giáo hoá kẻ khác mà không giáo hoá được chính mình!” (Rm 2, 21).
5- Chỉ tin Chúa Giêsu là Vị Lãnh Đạo, là Thầy đích thực của mọi người (Mt 23,10). Bởi vì “Chúa nói : Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27 : Tung Hô Tin Mừng). Và “tôi là ánh sáng cho thế gian, ai theo tôi sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12).
Vậy mỗi người hãy bắt chước Chúa Giêsu, ít là sống giáo lý thánh Tông Đồ dạy : “Anh em đừng lo thỏa mãn tính xác thịt, dâm bôn,ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ,chè chén say sưa”, mà phải sống theo Lời Chúa hướng dẫn : “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí (Lời Chúa), thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,18-25 : Bài đọc năm chẵn). Vì “ai theo Ngài sẽ được ánh sáng ban sự sống” (Ga 8,12b : ĐC năm chẵn). “Họ như cây trồng bên suối nước, cứ đúng mùa là hoa trái trổ sinh” (Tv 1,2).
Hết những ai có lòng khiêm nhường, có trái tim biết đón nhận những Lời Chúa chúc dữ cho Biệt phái và Luật sĩ trong Tin Mừng, thì phải xác tín rằng :
- AI KHEN TA MÀ KHEN ĐÚNG, ẤY LÀ BẠN TA
- KẺ NỊNH HÓT TÂNG BỐC TA, NÓ LÀ THÙ TA
- NGƯỜI CHÊ TA MÀ CHÊ ĐÚNG, ĐẤY LÀ THẦY TA.

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

THỨ 2 SAU CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN

THỨ 2 SAU CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN
NĂM LẺ
Gn 1,1- 2,1.11 ; Lc 10,25-37



BÀI ĐỌC : Gn 1,1- 2,1.11

1
1 Có lời Đức Chúa phán với ông Giô-na, con ông A-mít-tai, rằng:2 "Hãy đứng dậy, đi đến Ni-ni-vê, thành phố lớn, và hô cho dân thành biết rằng sự gian ác của chúng đã lên thấu tới Ta." 3 Ông Giô-na đứng dậy nhưng là để trốn đi Tác-sít, tránh nhan Đức Chúa. Ông xuống Gia-phô và tìm được một chiếc tàu sắp đi Tác-sít. Ông trả tiền, xuống tàu để cùng đi Tác-sít với họ, tránh nhan Đức Chúa.4 Nhưng Đức Chúa tung ra một cơn gió to trên biển và liền có một trận bão lớn ngoài khơi, khiến tàu tưởng chừng như sắp vỡ tan.5 Thuỷ thủ sợ hãi; họ kêu cứu, mỗi người kêu lên thần của mình và ném hàng hoá trên tàu xuống biển cho nhẹ bớt. Còn ông Giô-na thì đã xuống hầm tàu, nằm đó và ngủ say.6 Viên thuyền trưởng lại gần và nói với ông: "Sao lại ngủ thế này? Dậy! Kêu cầu thần của ông đi! May ra vị thần ấy sẽ nghĩ đến chúng ta và chúng ta khỏi mất mạng."7 Rồi họ bảo nhau: "Nào, chúng ta hãy bắt thăm cho biết tại ai mà chúng ta gặp tai hoạ này." Họ gieo quẻ và quẻ rơi trúng ông Giô-na.8 Họ bảo ông: "Vì ông là người đã đem tai hoạ này đến cho chúng ta, thì xin ông cho chúng tôi biết: Ông làm nghề gì? Ông từ đâu đến, quê ở nước nào, và thuộc dân nào? " 9 Ông nói với họ: "Tôi là người Híp-ri, Đấng tôi kính sợ là Đức Chúa, Thiên Chúa các tầng trời, Đấng đã làm ra biển khơi và đất liền."10 Những người ấy sợ, sợ lắm; họ nói với ông: "Ông đã làm gì thế? " Thật vậy, do ông kể lại mà họ được biết là ông đang trốn đi để tránh nhan Đức Chúa.11 Họ hỏi ông: "Chúng tôi phải xử với ông thế nào để cho biển lặng đi, không còn đe doạ chúng tôi nữa? " Quả thật, biển càng lúc càng động mạnh.12 Ông bảo họ: "Hãy đem tôi ném xuống biển thì biển sẽ lặng đi, không còn đe doạ các ông nữa; vì tôi biết là tại tôi mà các ông gặp cơn bão lớn này." 13 Những người ấy cố chèo vào đất liền, nhưng không thể được vì biển mỗi lúc một động thêm, uy hiếp họ.14 Họ kêu cầu Đức Chúa và thưa: "Ôi, lạy Đức Chúa, ước gì chúng con không phải chết vì mạng sống người này, và xin đừng đổ máu vô tội trên đầu chúng con; vì lạy Đức Chúa, chính Ngài đã hành động tuỳ theo sở thích."15 Rồi họ đem ông Giô-na ném xuống biển. Biển dừng cơn giận dữ.16 Những người ấy sợ Đức Chúa, sợ lắm; họ dâng hy lễ lên Đức Chúa và khấn hứa.
2
1 Bấy giờ, Đức Chúa khiến một con cá lớn nuốt ông Giô-na. Ông Giô-na ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.
11 Rồi Đức Chúa bảo con cá, nó liền mửa ông Giô-na ra trên đất liền.

ĐÁP CA : Gn 2
Đ. Lạy Chúa, Ngài đã đưa con lên khỏi huyệt để con được sống. (c 7c)

3 Từ cảnh ngặt nghèo, tôi kêu lên Đức Chúa,Người đã thương đáp lời. Lạy Chúa, từ lòng âm phủ, con cầu cứu, Ngài đã nghe tiếng con.
4 Ngài đã ném con vào vực sâu, giữa lòng biển, làn nước mênh mông vây bọc con, sóng cồn theo nước cuốn, Ngài để cho tràn ngập thân này.
5 Con đã nói: "Con bị đuổi đi khuất mắt Chúa rồi! Nhưng con vẫn hướng nhìn về thánh điện của Chúa."
8 Khi mạng sống con hầu tàn, con đã nhớ đến Đức Chúa và lời cầu nguyện của con đã tới Ngài, tới đền thánh của Ngài.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Ga 13,34
Hall-Hall : Chúa nói : Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em. Hall.
TIN MỪNG : Lc 10,25-37
25 Một hôm, có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” 26 Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào? "27 Ông ấy thưa: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình." 28 Đức Giê-su bảo ông ta: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống."
29 Tuy nhiên, ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi? "30 Đức Giê-su đáp: "Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi.32 Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.33 Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương.34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác."36 Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? "37 Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy." Đức Giê-su bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy."





CON ĐƯỜNG SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI


Làm người ai cũng khát vọng được sống đời đời làm gia nghiệp (x Lc 10,25 : Tin Mừng). Muốn được thế, Đức Giê-su dạy ta sống giới răn : "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình." (Lc 10,27 : Tin Mừng). Luật này trở thành lời kinh chính thức, người Do Thái gọi là kinh “Shema” trong kinh Nhật Tụng, từ trẻ nhỏ đến người già mỗi ngày phải đọc hai lần (giống kinh Lạy Cha, Hội Thánh dạy chúng ta đọc ngày ba lần : Thánh Lễ, kinh Sáng và kinh Chiều).
Thế nhưng để được cứu độ, không phải chỉ đọc kinh mà còn thực hành lời kinh (x Mt 7,21), mà phải bắt chước sống lời kinh này như Đức Giê-su vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, đó là ngày Ngài dâng Lễ.
- “Yêu hết sức lực” : Đức Giê-su không đủ sức vác thập giá lên đồi Sọ, người ta phải nhờ ông Simon vác giúp (x Lc 23,26).
- “Yêu hết trí khôn” : Đức Giê-su bằng lòng hiến mạng cho kẻ ác vì muốn cứu phàm nhân. Dưới con mắt người đời người ta cho Ngài là kẻ điên dại (x 1Cr 1,18t).
- “Yêu hết linh hồn” : Trên thập giá người ta đã cướp hết những gì thuộc thân xác Ngài, chỉ còn linh hồn Ngài dâng cho Chúa Cha : “Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha” (Lc 23,46).
- “Yêu hết lòng” : Đức Giê-su đã tắt thở, nhưng kẻ ác vẫn lấy giáo đâm thủng tim Ngài, nước và máu dốc ra hết (x Ga 19,34).
Như thế ta thực hành bốn hành động thể hiện tình yêu Chúa trên đây, chính là lúc ta dâng Lễ nhờ, với, trong Chúa Giê-su (Rm 11,36). Đây là Luật của Chúa và Hội Thánh dạy ta phải tuân giữ. Luật này ông Mô-sê đã nói tiên tri : “Mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay không quá sức hay ngoài tầm tay. Luật đó không ở trên trời khiến anh em phải nói : “Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành? Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển, khiến anh em phải nói : “Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi, và nói cho chúng tôi nghe để chúng tôi thực hành? Lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, ngay trong lòng để anh em đem ra thực hành” (Dnl 30, 11-14).
- “Lệnh truyền cho anh em không quá sức lực hay ngoài tầm tay” : Vì ta được kết hợp với Chúa Giêsu mỗi khi đi dâng Lễ. và chỉ khi ấy ta mới được Chúa Giê-su thực hiện Lời Ngài đã hứa : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (x Mt 11,28-30).
- “Luật không ở xa trên trời hay bên kia biển để phải đi tìm kiếm đem về thực hành” : Vì Luật Hội Thánh không buộc ta khi ở quá xa Nhà Thờ vẫn phải đi dâng Lễ. Trường hợp ấy ta làm việc lành phúc đức bù lại : đọc Thánh Kinh, cầu nguyện và khát khao rước lễ (gọi là rước lễ thiêng liêng), thì cũng có giá trị như đi dâng Lễ. Như thế, người ở gần hay ở xa Nhà Thờ, quả thật giữ Luật hiệp dâng Thánh Lễ không còn sợ xa xôi phải đi tìm kiếm.
Luật ngay trong miệng trong lòng” : Việc đi dâng Lễ phát khởi từ trái tim yêu mến, như thánh Phao-lô nói : “Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14).

Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách ta để yêu đồng loại như chính mình (x Lc 10,27b : Tin Mừng). Cụ thể phải phục vụ đồng loại nhằm đưa họ vào Hội Thánh và để được Chúa và các thánh chăm sóc, theo như giáo huấn trong dụ ngôn người Samari nhân hậu. Nhưng để nhận ra những điểm giáo huấn ta phải thực hành nhằm diễn tả Đức Ái Ki-tô giáo, ta hãy so sánh người Samari nhân hậu với Đức Giê-su :

NGƯỜI SAMARI
NHÂN HẬU (Lc 10,29-37)
a- Dân Do Thái coi người Sa-ma-ri là những kẻ rối đạo, vì không thờ Thiên Chúa ở Giê-ru-sa-lem, mà lại thờ ở Ga-ri-zim.
b- Người bị kẻ cướp đánh nửa sống nửa chết !

c- Ông Sa-ma-ri đưa nạn nhân vào quán trọ.
d- Ông Sa-ma-ri và chủ quán cùng chăm sóc nạn nhân.
e- Ông Sa-ma-ri trả công cho chủ quán hai quan tiền.

g- Ông Sa-ma-ri có việc lên đường nên hứa với chủ quán, khi vòng lại, ông sẽ trả những gì còn thiếu về việc chăm sóc nạn nhân!

ĐỨC GIÊ-SU

a* Các đầu mục Do Thái kết án Đức Giê-su là kẻ phá đạo hay rối đạo, vì Ngài không giữ các truyền thống sống Đạo của cha ông, họ liệt kê Ngài là quân Samari (x Ga 8,48)
b* Kẻ cướp là quỷ ; nạn nhân là người bị quỷ tấn công ; tình trạng nửa sống nửa chếtxác còn sống, linh hồn đã chết vì tội lỗi!
c* Đức Giê-su đưa ta vào Hội Thánh.
d* Đức Giê-su và Hội Thánh cùng chăm sóc tội nhân.
e* Những ai cùng với Đức Giê-su chăm sóc đồng loại đều được Ngài thưởng công cả xác, cả hồn ; đời này và đời sau.
g* Đức Giê-su sẽ trở lại trần gian vào ngày cánh chung. Lúc ấy Ngài thưởng công trọn vẹn cả xác hồn cho những ai biết chăm sóc đồng loại, nhất là giúp đồng loại thuộc về Chúa Ki-tô.
là người khi phạm tội :
Vậy sống đức ái Ki-tô giáo chính là con đường dẫn đến sự sống đời đời làm gia nghiệp, ta phải đi ba bước:
  • Luôn kết hợp với Chúa Giê-su Thánh Thể, là ta được đồng hóa với Ngài, để Ngài sẽ giúp ta sống : “Luật yêu Chúa hết linh hồn, hết lòng, hết sức, hết trí khôn” (x Lc 10,27)
  • Chăm sóc đồng loại, bất chấp gian khổ : Không thua ông Sa-ma-ri giúp người bị cướp đánh! (x Lc 10,33-34)
  • Đưa đồng loại vào Hội Thánh còn hơn ông Sa-ma-ri đưa nạn nhân vào quán trọ, để nhờ chủ quán cộng tác chăm sóc (x Lc 10,34). Đó là hình ảnh những người sống trong Hội Thánh đều được Chúa Giêsu (Samari) và các chủ chăn (chủ quán) chung tay chăm sóc. Bởi thế, giáo huấn của Hội Thánh trong Công Đồng Vat.II dạy : “Chúa không muốn cứu con người cách riêng rẽ thiếu liên kết” (HCHT số 9). Thế thì nếu hai ông tư tế và Lê-vi có dừng lại chăm sóc người bị cướp đánh, thì đó chỉ là nhân bản, các ông cũng chưa có Đức Ái Ki-tô giáo, vì mọi tôn giáo,kể cả người vô thần cũng dạy thương giúp người lâm nạn. Tệ nhất, hình ảnh ông Tư tế và Lêvi là đại diện cho giới chống đối Đức Giê-su (x Ga 7, 45-52) ; chống đối dự tiệc Thánh Thể (x Ga 6,53-66) và chống đối việc đưa người vào Hội Thánh (x Ga 11,47-48 ; Cv 9,1t). Mà ai không thuộc về Thiên Chúa thì người đó không có Đức Ái, chỉ có Thiên Chúa là Đức Ái (x 1Ga 4,8), cho nên họ có làm việc tốt theo nhãn giới người đời, thì trước mặt Chúa cũng ra vô ích đối với họ, đến nỗi thánh Phaolô nói : “Giả như tôi đem hết gia tài sự nghiệp mà chia sẻ hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có Đức Mến thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13,3). Đức Mến ở đây không phải là phẩm tính mà là một ngôi vị : “Thiên Chúa là Đức Mến” (1Ga 4,8).
Đây là giáo lý về Đức Ái quan trọng và chính xác nhất, để hướng dẫn mọi sinh hoạt đời ta đạt sự sống đời đời làm gia nghiệp. Đó là “Giao Ước đã lập ra muôn đời Chúa nhớ mãi” (Tv 111/110,5b : Đáp ca năm chẵn). Giao Ước Tình Yêu này chỉ có Hội Thánh Chúa Kitô rao giảng, nên : “Bất cú ai, kể cả các thiên thần dạy một giáo lý khác với Hội Thánh đã tin như trên, thì nó là đồ bị chúc dữ !Vì việc dạy giáo lý là làm đẹp lòng Chúa chứ không phải làm đẹp lòng người đời, bởi đó nếu chỉ lo làm hài lòng người đời, thì không còn xứng đáng là nô lệ của Chúa Kitô nữa !”(x Gl 1,6-12 : Bài đọc năm chẵn).
Vì giáo lý của Chúa khác với suy nghĩ người đời, đó là lý do ông Giona không đi giảng cho dân thành Ninivê. Ông tin rằng chỉ có dân Do Thái mới đón nhận được ý Chúa, mới đáng được Chúa cứu độ. Dân ngoại không thể hiểu được Lời Chúa, thì để chúng chết trong tội cũng là hợp lý, có giảng Lời Chúa cho chúng cũng chỉ là “vất ngọc trai cho bầy chó bầy heo!” (x Mt 7,6). Ấy chưa kể giảng Lời cho dân ngoại dễ gì thoát ăn đòn. Nhưng Chúa cứ giục ông đi, buộc ông phải đáp tầu trốn sang Tác- xit, nơi Chúa không có mặt, thì Ngài không quấy rầy ông nữa. Chuyến tầu chở ông ra giữa biển liền gặp sóng gió kinh hoàng, mọi người trên tầu vội vất bớt hành lý xuống biển, nhưng xem ra khó mà thoát chết, lúc đó mọi người có sáng kiến gieo quẻ, để tìm xem ai là người đã xúc phạm đến thần minh đã gây ra hậu quả này! Quẻ họ gieo rơi trúng ông Giona, họ lục tìm thì thấy ông đang ngủ say dưới hầm tầu, họ hỏi : “Chúng tôi phải xử với ông thế nào để cho biển lặng đi, không còn đe dọa chúng tôi nữa?” Ông bảo họ : “Hãy đem tôi ném xuống biển, thì biển sẽ lặng, không còn đe dọa các ông nữa!” Họ cất tiếng kêu cầu Chúa : “Ôi lạy Chúa, ước gì chúng con không phải chết vì mạng sống người này, và xin đừng đổ máu vô người tội trên đầu chúng con. Chính Ngài đã hành động tùy theo sở thích”, rồi họ đem ông Giona ném xuống biển. Biển dừng cơn giận dữ. Họ sợ Chúa lắm, nên dâng lễ khấn hứa cùng Chúa. Chúa khiến một con cá lớn nuốt ông Giona. Ông Giona ở trong bụng cá ba ngày ba đêm. Từ trong bụng cá ông cầu nguyện cùng Chúa” (Gn 1,1-2,1-11 : Bài đọc năm lẻ).
Như vậy ai trốn nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa, thì người đó là nguyên nhân gây ra sóng gió cho mọi người. Bởi đó thánh Phaolô hãnh diện nói với các tín hữu trước giờ ông bị giết : “Ngày hôm nay trước mặt anh em, tôi cam đoan rằng : tôi hoàn toàn trong sạch về máu mọi người. Vì tôi đã không e ngại mà giấu giếm đi, để không loan báo cho anh em tất cả ý định của Thiên Chúa” (Cv 20,26-27- bản dịch NTT).
Thánh Giacôbê nói : “Lời Chúa là tấm gương soi mặt linh hồn” (Gc 1,23). Bởi đó có rao giảng Lời Chúa, mọi người mới nhận biết mình có tội mà sám hối và trông cậy vào lòng Chúa thương xót, Ngài đang giơ tay đón chờ mọi người để giúp họ biết sống yêu như giới răn Ngài dạy : “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34 : Tung Hô Tin Mừng). có thế mới có thể cất lời cầu nguyện : “Lạy Chúa, Ngài đã đưa con lên khỏi huyệt để con được sống” (Gn 2,7c : ĐC năm lẻ).
THUỘC LÒNG
Nếu có ai, kể cả chúng tôi (các Tông Đồ), hoặc một thiên thần nào từ trời xuống, loan báo cho anh em Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã loan báo cho anh em, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi! (Gl 1,8)





http://phaolomoi.net
Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

THỨ 6 SAU CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

THỨ 6 SAU CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN
NĂM LẺ
Kg 1,15b - 2,9 ; Lc 9,18-22



BÀI ĐỌC : Kg 1,15b - 2,9

1
15b Năm thứ hai triều Đa-ri-ô.
2
1 Tháng bảy ngày hai mươi mốt, có lời Đức Chúa phán qua trung gian ngôn sứ Khác-gai rằng:2 "Ngươi hãy nói với tổng đốc xứ Giu-đa là Dơ-rúp-ba-ven, con ông San-ti-ên, nói với thượng tế Giê-su-a, con ông Giơ-hô-xa-đắc và nói với những người còn sót lại trong dân rằng:3 Ai trong các ngươi trong số người còn sót lại đã từng được chứng kiến cảnh rực rỡ vinh quang của Đền Thờ ban sơ? Và bây giờ các ngươi thấy Đền Thờ như thế nào? Trước mắt các ngươi, nó chẳng còn là gì nữa đó sao?4 Vậy bây giờ, hỡi Dơ-rúp-ba-ven, hãy mạnh bạo lên! Này thượng tế Giê-su-a, con ông Giơ-hô-xa-đắc, mạnh bạo lên nào! Toàn dân trong xứ hãy mạnh bạo lên! Sấm ngôn của Đức Chúa. Hãy bắt tay vào việc, vì chính Ta ở với các ngươi. Sấm ngôn của Đức Chúa các đạo binh.5 Chiếu theo lời Ta kết ước với các ngươi lúc các ngươi ra khỏi Ai-cập, thần khí Ta ở giữa các ngươi; các ngươi đừng sợ.6 Quả thật, Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Chỉ còn một thời gian ngắn nữa thôi, Ta sẽ làm rung chuyển trời đất, biển khơi và đất liền.7 Ta sẽ làm cho tất cả các dân tộc phải chấn động và các kho tàng của các dân tộc sẽ đổ về, rồi Ta sẽ làm cho Đền Thờ này rực rỡ vinh quang. Đức Chúa các đạo binh phán.8 Bạc là của Ta, vàng là của Ta - sấm ngôn của Đức Chúa các đạo binh.9 Vinh quang của Đền Thờ lúc này sẽ rạng ngời hơn khi trước, Đức Chúa các đạo binh phán; tại nơi này Ta sẽ ban tặng bình an - sấm ngôn của Đức Chúa các đạo binh."
ĐÁP CA : Tv 42
Đ. Hãy cậy trông Thiên Chúa, tôi còn tán tụng Người,
Người là Đấng cứu độ, là Thiên Chúa của tôi. (c 5bc)

1 Lạy Chúa Trời, xin xử cho con, biện hộ cho con chống lại phường bất nghĩa, xin cứu con thoát khỏi người xảo trá gian tà. 2 Chính Ngài là Thiên Chúa bảo vệ con, sao Ngài đành xua đuổi? Sao con phải lang thang tiều tuỵ,bị quân thù áp bức mãi không thôi?
3 Xin Ngài thương sai phái ánh sáng và chân lý của Ngài, để soi đường dẫn lối con đi về núi thánh, lên đền Ngài ngự.
4 Con sẽ bước tới bàn thờ Thiên Chúa, tới gặp Thiên Chúa, nguồn vui của lòng con. Con gảy đàn dâng câu cảm tạ, lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ.
5 Hồn tôi hỡi, cớ sao phiền muộn, xót xa phận mình mãi làm chi? Hãy cậy trông Thiên Chúa, tôi còn tán tụng Người, Người là Đấng cứu độ, là Thiên Chúa của tôi.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Mc 10,45b
Hall-Hall : Con Người đến để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Hall.

TIN MỪNG : Lc 9,18-22
18 Hôm ấy, Đức Giê-su cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người, và Người hỏi các ông rằng: "Dân chúng nói Thầy là ai? "19 Các ông thưa: "Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại."20 Người lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? " Ông Phê-rô thưa: "Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa."21 Nhưng Người nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai.

22 Người còn nói: "Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy."

CĂN CƯỚC NGƯỜI KITÔ

Một triết gia nổi danh trong nền văn hóa Hy La trước Công nguyên là ông Socrate, cả cuộc đời ông chỉ rao giảng một chân lý : “Hãy tự biết mình”. Bởi vì để đón nhận và làm chứng cho chân lý mỗi người phải cầu nguyện và tự phản tỉnh về mình : “Tôi là ai ?” Đức Giêsu đã làm mẫu cho chúng ta về vấn đề này : sau khi đã cầu nguyện, Ngài lên tiếng hỏi các môn đệ : “Theo như dân chúng nói, thì Thầy là ai?” Đáp lại, họ thưa : “Gioan Bt ; nhóm khác là Ê-ly-a, nhóm khác nữa là một tiên tri thời xưa đã sống lại” (Lc 9, 18-19 : Tin Mừng).
I- Người ta bảo Đức Giêsu là ông Gioan Bt : Vì đời sống của ông Gioan Bt đã diễn tả đời sống của Đức Giê-su :
1- Thống nhất chương trình hành động : Ông Gioan và Đức Giêsu đều mở đầu lời giảng : “Hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2 = Mt 4,17).
2- Cùng kêu gọi sám hối và sống có nhân bản:
- Ông Gioan nói với những người đến với ông : “Đừng bóc lột ai, đừng xách nhiễu, đừng vu khống cho ai” (Lc 3,12-14).
+ Đức Giêsu kêu gọi mọi người : “Hãy kíp thỏa thuận với đối phương…” (Mt 5,25-26).

3- Cùng kêu gọi làm lành :
- Ông Gioan nói : “Hãy sinh quả phúc đức xứng với lòng hối cải!” (Mt ,38)
+ Đức Giêsu đòi hỏi những người đã ý thức mình thuộc về Thiên Chúa : “Phải luôn làm lành bất cứ thời điểm nào”, như cây vả lớn chưa đến mùa trái mà Đức Giêsu đến đòi hái trái, nó không có trái, Ngài liền nguyền rủa nó chết khô !” (Lc 13,6-7).

4- Cùng kêu gọi chia sẻ :
- Ông Gioan nói : “Ai có hai áo hãy chia cho người không có một cái” (Lc 3,11)
+ Đức Giêsu dạy người giàu có : “Muốn được sự sống đời đời thì hãy đem của chia sẻ rồi theo tôi” (Lc 18,32).

5- Cùng sống nghèo để thực hành sứ mệnh Chúa trao :
- Ông Gioan vốn dĩ là con của tư tế giàu có, nhưng ông lại mặc áo lông lạc đà, ngang lưng thắt xiêm bằng da thú, ăn chấu chấu và mật ong rừng (Mt 3,4).
+ Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa giàu có, thế mà lại nói với kẻ muốn theo Ngài : “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người (Đức Giêsu) không có nơi ngả đầu” (Lc 9,57-58).
6- Cùng tìm vinh quang cho Thiên Chúa nên sống khiêm tốn:

- Ông Gioan nói : “Ngài phải lớn lên còn tôi thì nhỏ lại” (Ga 3,30).
+ Đức Giêsu trả lời cho những người Do Thái muốn giết Ngài : “Ta không tìm vinh quang cho Ta” (Ga 8,50) ; “Ta chỉ lo làm vinh danh Cha Ta” (Ga 12,28).

7- Cùng răn đe cảnh cáo :
- Ông Gioan nói : “Cái rìu đã để sẵn gốc cây, cây nào không sinh quả hãy chặt phăng quăng vào lửa” (Mt 3,10-12).
+ Đức Giêsu báo trước về cảnh ngày phán xét loài người trong ngày cánh chung : “Ai không biết chia sẻ cho kẻ bé mọn thì phải vào lửa đời dành cho ma quỷ và những kẻ theo nó” (Mt 25,31-46).

8- Cùng chết vì chân lý :
- Ông Gioan cản vua Hêrôđê không được cướp vợ của anh làm vợ mình, nên ông bị cắt đầu (Mt 14,12-13).
+ Đức Giêsu chỉ dạy mọi người hãy tránh tội và làm lành, thế mà Ngài bị đóng đinh treo trên thập giá (Ga 18-19).

II- Người ta bảo Đức Giêsu là ông Êlya : Vì chính Đức Giêsu tự nhận Ngài là hiện thân ông Êlya cũng như ông Êlyse (Lc 4,25-27). Bởi lẽ tinh thần của Đức Giêsu và ông Êlya đều dứt khoát và nóng bỏng như lửa. Do đó người môn đệ Chúa yêu (Gioan) muốn Đức Giê-su tung lửa đốt thành Samari như ông Êlya xin lửa trời thiêu rụi những kẻ đến bắt ông (2 V 1,10-12 = Lc 9, 51t).
Như thế người ta nói Đức Giêsu là ông Gioan Tẩy Giả, hay là ông Êlya, hoặc một ngôn sứ nào tái xuất hiện (Lc 9,19 : Tin Mừng), thì đều chung một ý : Đức Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa đến công bố Lời, và Ngài có sứ mệnh giải phóng dân khỏi quyền lực sự ác thống trị, quan trọng hơn sứ mệnh ông Môsê giải phóng dân tộc Do Thái thoát nô lệ Ai Cập, vì Đức Giêsu đến làm ứng nghiệm Lời Chúa nói với ông Môsê : “Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như ngươi để giúp chúng, Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng người ấy, và người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho người ấy” (Dnl 18,18).
Những nhận định nơi quần chúng về Đức Giêsu như thế, chỉ mới diễn tả Ngài là sứ giả của Thiên Chúa sai đến loan báo Lời, họ chưa biết rõ về căn tính của Ngài, nên Ngài hỏi các môn đệ : “Còn chúng con, chúng con nói Thầy là ai ?” Ông Phêrô đại diện cho Nhóm Mười Hai thưa : “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9,20 : Tin Mừng). Lời tuyên xưng Đức Tin của ông Phêrô đại diện Nhóm Mười Hai nhằm minh chứng : Chúa Giêsu đáp ứng khát vọng những người trông đợi Đấng đến ban Lời giải phóng khỏi cảnh nô lệ, như người phụ nữ Samari thưa với Đức Giêsu tại bờ giếng Giacob: "Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự." Đức Giêsu đáp: "Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây." (Ga 4,25-26). Nhưng Đức Giêsu chỉ loan báo chân lý trọn vẹn sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Đó là lý do Ngài báo trước về cuộc Tử Nạn : “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ chỗi dậy.” (Lc 9,22 : Tin Mừng). Vì chân lý Ngài ban phải trả giá bằng chính mạng sống Ngài, để mọi người nhận ra sự thật trọn hảo nơi giáo lý của Ngài, và cũng để diễn tả tình yêu tuyệt vời của Đấng đã chết vì chân lý. Nhưng Đức Giêsu lại cấm các môn đệ đừng nói cho ai biết Ngài là Đấng Kitô của Thiên Chúa, vì ba lý do
1- Nếu để người Do Thái tung hô Ngài là Đức Kitô : là Đấng được Thiên Chúa xức dầu sai đến lãnh đạo dân, đánh đuổi đế quốc Roma giành độc lập (x Cv 1,6), thì tạo cớ cho Roma gây khó dễ trong sứ mệnh của Ngài, hoặc tìm cách tiêu diệt Ngài, vì dân trông cậy Ngài đến giải phóng họ khỏi ách thống trị Roma, thì không đúng với sứ mệnh của Ngài.
2- Lời tuyên xưng Đức Tin của ông Phêrô : “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”, theo ông ghi chưa trọn hảo, vì ông Luca muốn nói rằng : chỉ qua mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu, Ngài mới lãnh nhận vương quyền nơi Chúa Cha “Danh Ngài trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu, để khi vừa nghe danh thánh Giêsu cả trên trời dưới đất và trong nơi Âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (x Pl 2,6-11).
3- Kinh Thánh nói : “Đừng khen ai có phúc trước khi họ lìa đời, vì nhìn vào con cái người ta sẽ biết họ” (Hc 11,28). Bởi vậy, chính những người Công Giáo phải nói được như thánh Tông Đồ : “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi đối với Chúa Kitô” (1Cr 11,1), thì mới làm cho nhân loại biết chính xác về Chúa Giêsu được. Cũng như người ta nhìn vào tinh thần sống Đạo của dân Do Thái sau thời lưu đày Babylon trở về tái thiết đền thờ Giêrusalem, để cho muôn dân nhận ra Thiên Chúa rất hùng mạnh và rất mực thương yêu dân ngài tuyển chọn thế nào.

Thực vậy, Chúa phán qua trung gian ngôn sứ Khác-gai rằng : “Ngươi hãy nói với tổng đốc xứ Giuđa là Dơ-rúp-ba-ven : “Ai trong các ngươi, trong số người còn sót lại đã từng được chứng kiến cảnh rực rỡ vinh quang của Đền Thờ ban sơ? Và bây giờ các ngươi thấy Đền Thờ như thế nào? Hỡi Dơ-rúp-ba-ven, hãy mạnh bạo lên! Này thượng tế Giê-su-a mạnh bạo lên nào! Toàn dân trong xứ hãy mạnh bạo lên, hãy bắt tay vào việc, vì chính Ta ở với các ngươi, các ngươi đừng sợ, chỉ còn một thời gian ngắn nữa thôi, Ta sẽ làm rung chuyển trời đất, biển khơi và đất liền, các kho tàng của các dân tộc sẽ đổ về, rồi Ta sẽ làm cho Đền Thờ này rực rỡ vinh quang, vinh quang của Đền Thờ lúc này sẽ rạng ngời hơn khi trước, tại nơi này Ta sẽ tặng bình an” (Kg 1,15b - 2,9 : Bài đọc năm lẻ). Bởi thế dân Thiên Chúa cùng hô : “Hãy trông cậy Thiên Chúa, tôi còn tán tụng Người, Người là Đấng Cứu Độ là Thiên Chúa của tôi” (Tv 43/42,5bc : ĐC năm lẻ).
Thế thì Đức Giêsu là nguyên lý của định luật mâu thuẫn phát triển, như Lời Thánh Kinh đã nói : “Ở dưới bầu trời này mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời : một thời để chào đời, một thời để lìa thế ; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây ; một thời để giết chết, một thời để chữa lành ; một thời để phá đổ, một thời để xây dựng ; một thời để khóc lóc, một thời để vui cười …” (x Gv 3,1-8 : Bài đọc năm chẵn).
Nhìn thế giới và cuộc đời đổi thay như thế, thì “lợi ích gì cho những người làm lụng vất vả?” Nhưng mọi vất cả của con người chỉ gọi là việc lành, được tồn tại muôn đời, có giá trị góp phần vào ơn cứu độ để tôn vinh Thiên Chúa, nhờ Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu (x Rm 11,36 ; Cv 5,39).“Đây là công việc của Thiên Chúa giao cho con người phải gắng sức tiếp tục làm. Thiên Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc. Thiên Chúa cũng ban cho con người biết nhận thức về vũ trụ, tuy thế, con người không thể nào hiểu hết được ý nghĩa công trình Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử” (Gv 3,9-11 : Bài đọc năm chẵn).
Vậy để đón nhận được chân lý và làm chứng cho chân lý, ta phải mò mẫm đi trong đêm tối của niềm tin, vượt mọi rào cản gây đau khổ, chấp nhận thiệt mạng giống ông Gioan đã báo trước con đường thập giá Thầy Giêsu đi. Bởi vì ta tin rằng “chỉ có Chúa là núi đá cho con trú ẩn” (Tv 144/143,1a : ĐC năm chẵn), để trong Chúa Giêsu Phục Sinh ta mới được cấp căn cước chính thức về mình, chứ đừng để khi nào ta hỏi bạn : “Người ta nói gì về tôi?” Thì lại nghe câu trả lời :
  • Người đang phê bình bạn ăn nói chua như dấm, vì miệng bạn mở ra chỉ là “cay chua, gắt gỏng, la lối, chửi rủa,thóa mạ!”.
  • Có người bảo bạn là tên xì-ke!
  • Người khác bảo bạn là tên ăn tục nói phét!
Mùa Chay năm 2009, tôi được mời đến giảng Tĩnh Tâm tại Nhà Thờ ở tiểu bang Lousiana (Hoa Kỳ). Trong bữa cơm dùng với cha Sở, ngài kể cho tôi nghe :
Có lần tôi về thăm quê VN, vào gặp một giáo sĩ có địa vị trong địa phận Saigon. Giáo sĩ ấy hỏi tôi : “Bên Mỹ người ta nói tôi thế nào?” Tôi đáp : “Họ nói anh ba điều : anh đẹp trai, anh học giỏi, hợp với tên anh, anh là đảng viên cộng sản thứ thiệt!” Như thế giáo sĩ ấy đã đánh mất căn cước của mình, đáng lẽ mọi người phải nói : Anh là giáo sĩ giống cha Gioan Vianey, để dẫn mọi người đến với Đức Giêsu Mục Tử, vì Ngài nói : “Con Người đến để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mc 10,45b: Tung Hô Tin Mừng), thì mới đúng là căn cước một giáo sĩ Công Giáo
THUỘC LÒNG
Ngoài Chúa Kitô Giêsu chịu đóng đinh, tôi không muốn biết điều gì khác ! (1Cr 2,2).



http://phaolomoi.net
Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

THỨ 5 SAU CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

THỨ 5 SAU CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN
NĂM LẺ
Kg (Khác-gai) 1,1-8 ; Lc 9,7-9



BÀI ĐỌC : Kg 1,1-8

1 Ngày mồng một tháng sáu năm thứ hai triều vua Đa-ri-ô, có lời Đức Chúa phán, qua trung gian ngôn sứ Khác-gai, với tổng đốc xứ Giu-đa là Dơ-rúp-ba-ven, con ông San-ti-ên, và với thượng tế Giê-su-a con ông Giơ-hô-xa-đắc, như sau : 2 Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Dân đó dám nói: "Bây giờ chưa phải là lúc tái thiết Đền Thờ kính Đức Chúa .3 Nhưng có lời Đức Chúa phán, qua trung gian ngôn sứ Khác-gai, rằng:4 "Bây giờ có phải là lúc để các ngươi ở trong các nhà có ghép gỗ đóng trần, còn Đền Thờ thì lại hoang tàn đổ nát không?5 Vậy giờ đây, Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi.6 Các ngươi gieo vãi nhiều, nhưng thu hoạch chẳng bao nhiêu. Các ngươi ăn mà không đủ no, uống không đủ say, mặc không đủ ấm. Đồng lương của người làm thuê lọt qua túi thủng.7 Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi.8 Hãy lên núi, đưa gỗ về tái thiết Đền Thờ cho Ta. Ta sẽ vui thích và tỏ vinh quang Ta ở đó, Đức Chúa phán.

ĐÁP CA : Tv 149
Đ. Chúa mến chuộng dân Người. (c 4a)

1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, ngợi khen Người trong cộng đoàn những kẻ hiếu trung ! 2 Hỡi Ít-ra-en, nào hoan hỷ,vì có Chúa là Đấng tạo thành ngươi. Con cái Xi-on, hãy nhảy mừng,vì được Chúa làm Vua hiển trị.
3 Mừng Thánh Danh, nào dâng điệu vũ, nhịp trống hoạ đàn theo khúc hoan ca. 4 Bởi vì Chúa mến chuộng dân Người, ban cho kẻ nghèo hèn được vẻ vang chiến thắng.
5 Kẻ hiếu trung hãy vui mừng rạng rỡ, nào phủ phục mà cất tiếng reo hò, 6a miệng vang lời tán dương Thiên Chúa, thanh gươm hai lưỡi, cầm chắc trong tay. 9b Đó là niềm vinh dự cho mọi kẻ trung hiếu với Người.

TUNG HÔ TIN MỪNG : Ga 14,6
Hall-Hall : Chúa nói : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Hall.

TIN MỪNG : Lc 9,7-9
7 Khi tiểu vương Hê-rô-đê nghe biết tất cả những gì đã xảy ra, thì phân vân lắm. Thật vậy, có kẻ nói: "Đó là ông Gio-an từ cõi chết trỗi dậy."8 Kẻ khác nói: "Ông Ê-li-a xuất hiện đấy! " Kẻ khác nữa lại nói: "Đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại."9 Còn vua Hê-rô-đê thì nói: "Ông Gio-an, chính ta đã chém đầu rồi! Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế? " Rồi vua tìm cách gặp Đức Giê-su.





ẨN THÂN NƠI CHÚA KHÔNG CÒN PHÙ VÂN


Ta biết vua Salômôn không xin Chúa ban ơn Phúc – Lộc – Thọ, chỉ xin Chúa ban cho tấm lòng biết nghe, làm Chúa hài lòng, và Ngài đã ban cho ông khôn ngoan và giàu có đến nỗi không ai sánh được (x 1 V 3,9-13). Nhưng cuối đời, ông nhìn lại chỉ thấy mọi sự là phù vân, đây không phải là trải nghiệm riêng vua Salômôn, mà hết thảy mọi người khi nhìn lại đời mình, ai cũng thốt lên như vua Salômôn : “Mọi sự chỉ là phù vân”. Cho nên khi vua Salômôn viết tác phẩm Giảng viên để răn đời, ông không đề tên mình, mà ông lấy danh “Qohelet”, có nghĩa là cả cộng đoàn đều phải nhận chân rằng : “Phù vân quả là phù vân, lợi lộc gì đâu cho con người phải chịu đựng bao nhiêu gian lao vất vả dưới ánh nắng mặt trời ? Thế hệ này đi, thế hệ kia đến. Chỉ có trái đất mãi mãi trường tồn. Mặt trời mọc rồi lại lặn, gió thổi đi rồi vòng lại, nước chảy ra biển mà biển không tràn, sông chảy tới đâu từ đó sông lại tiếp tục…Mắt có nhìn bao nhiêu cũng chẳng thấy gì lạ. Điều đã có, rồi ra sẽ có, chẳng có gì mới ở trên đời” (x Gv 1,2-11 : Bài đọc năm chẵn).
Như thế Qohelet muốn nói : Con người có lúc xuất hiện trên trái đất, có ngày khuất đi, rồi sẽ có thời tái xuất hiện nhờ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu. Ngày ấy : “Mọi người sẽ từ cõi chết sống lại,và mỗi người lãnh thành quả đời mình lành hay dữ tùy theo việc tốt hay xấu đã làm khi còn trong thân xác” (2Cr 5,10). Ai không kết hợp với Chúa Giêsu, thì vào ngày cánh chung mọi sự đối với họ không chỉ là phù vân mà còn trở thành án phạt, như Đức Giêsu nói : “Phải vào lửa đời đời đã dọn sẵn cho ma quỷ cùng các chư thần của nó” (Mt 25,41) ; Nhưng ai sống kết hợp với Chúa Giêsu, mọi sự đã thuộc về họ kể cả tội lỗi, thì của phù vân lại trở thành ơn phù hộ. Vì thế thánh Tông Đồ nói : “Ở đâu tội lỗi nhiều, ở đó ân sủng càng chan chứa” (Rm 5,20).
Do đó, ai thuộc về Chúa Kitô thì không còn run sợ. Kẻ không có Chúa Giêsu vì nán lại trong tội ác, tâm hồn nó lúc nào cũng bấn loạn, mất bình an. Đan cử như vua Hêrôđê, ông tưởng đã giết được ông Gioan Bt, vì ông này phản đối vua không được cướp vợ của anh làm vợ mình! Vua Hêrôđê tưởng đã thắng được ông Gioan Bt và đã nhổ được cái gai làm nhức đầu ông. Nhưng thực ra vua đã thất bại, vì sau khi ông ra lệnh cắt đầu ông Gioan, tâm hồn ông lúc nào cũng nơm nớp lo sợ ông Gioan sống lại để báo oán (x Lc 9,7-9 : Tin Mừng), như thuở xưa vua Saolê không nghe lời ngôn sứ Samuel, nên bị quân Philitinh dấy lên tấn công. Ông biết mình bất lực trước sức mạnh của đối phương, khiến ông run sợ phải cầu cứu với Thiên Chúa, nhưng Ngài không thèm trả lời, vì ngôn sứ Samuel đã qua đời. Thế là vua giả dạng làm thường dân đến với thầy chiêm, xin gọi hồn ngôn sứ Samuel về, hy vọng được ông Samuel chỉ đường phản công quân Philitinh, nhưng ông Samuel hiện về lại nói : “Tại sao ngài thỉnh ý tôi, trong khi ĐỨC CHÚA đã rời khỏi ngài và đã trở nên thù địch với ngài? ĐỨC CHÚA đã hành động như Người đã dùng tôi mà phán: ĐỨC CHÚA đã giật vương quyền ra khỏi tay ngài và ban cho một người khác là Đa-vít. Bởi vì ngài đã không nghe tiếng ĐỨC CHÚA và đã không trút cơn thịnh nộ của Người xuống A-ma-lếch, cho nên hôm nay ĐỨC CHÚA đã xử với ngài như thế. Vua nghe được, ông ngã sóng sượt xuống đất vì quá sợ hãi về những lời ông Samuel nói” (x 1Sm 28,3-20).
Đức Giêsu nói cho những kẻ chống đối Ngài : “Ông Gioan là ngọn đèn cháy sáng, và các ông đã muốn vui hưởng ánh sáng của ông trong một thời gian” (Ga 5,35). Thế mà vua Hêrôđê đã ra lệnh cắt đầu ông, ông như ngọn đèn bị dập tắt, để Chúa Giêsu là Mặt Trời Công Chính mọc lên (x Ga 5,35 ; 3,30 ; Lc 1,78), Ngài làm nhiều phép lạ lẫy lừng khiến vua Hêrôđê lại tưởng Đức Giêsu là ông Gioan Bt sống lại để phóng họa xuống ông, như ngôn sứ Samuel đã hiện về chúc dữ cho vua Saolê.
Thực vậy, khi vua Hêrôđê nghe biết tất cả những việc lẫy lừng Đức Giêsu làm, ông lo lắng phân vân, vì có kẻ nói : “Gioan đã sống lại từ cõi chết ; kẻ khác nữa nói : đó là ông Êlya hiện về, mà Êlya hiện về nhiều người thời ấy kể cả môn đệ Đức Giêsu đều hiểu là ông Gioan Bt” (x Mt 17, 9-13), đến nỗi ông hoảng hốt thốt lên : “Gioan ta đã cho chém đầu rồi mà?” (Lc 9,7-9a : Tin Mừng). Tâm trạng vua Hêrôđê bất an như thế đã minh chứng Lời Kinh Thánh nói : “Kẻ ác luôn luôn chạy trốn, dù không ai đuổi bắt” (Cn 28,1). Đúng là “chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang, đánh được người thì mặt vàng như nghệ” (tục ngữ). Con hổ sau khi xâu xé con mồi, nó lăn quay ra ngủ ngon ; trái lại con người dù có đánh gục đối thủ cũng không sao chợp mắt thiếp ngủ được ! Bởi vậy “thà chết vì chân lý hơn là sống không chân lý”. Do đó muốn có chân lý thì phải tìm gặp Chúa Giêsu, như vua Hêrôđê trong lúc hoảng sợ lại muốn đi gặp Đức Giêsu (x Lc 9,9b : Tin Mừng).
Ý hướng của vua Hêrôđê muốn gặp Đức Giêsu trở thành động lực thúc bách con người tội lỗi cũng phải giống Hêrôđê tìm gặp Đức Giêsu, vì chỉ ai đến nghe Lời Đức Giêsu, người đó mới gặp được chân lý (x Ga 18,37).
Đối với người Công Giáo, tìm gặp chân lý, tìm gặp Chúa Giêsu cụ thể phải đi dự Lễ với Hội Thánh, vì mỗi lần ta hiệp dâng Thánh Lễ cách trọn vẹn là ta được đồng hóa với Chúa Giêsu vì cùng một nguồn gốc, cùng một xương thịt, cùng một sự sống với Thiên Chúa (x Dt 2,11.14 ; Ga 6,57 ; Gl 2,20). Chính vì vậy, ngay sau khi vua Hêrôđê muốn gặp Đức Giêsu, thì ngay sau đó ông Luca cho thấy Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi dân. Đây là dấu chỉ Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể, để đáp ứng khát vọng những ai đi tìm chân lý, tìm gặp Chúa Giêsu Phục Sinh (x Lc 9,10t). Bởi vì, chỉ trong Thánh Lễ ta mới nói được : “Trải qua bao thế hệ, Chúa là nơi chúng con trú ẩn” (Tv 90/89,1 : ĐC năm chẵn), vì “Chúa mến chuộng dân Người” (Tv 149,4 : ĐC năm lẻ). Mà có dự Lễ ta mới thực sự được trú ẩn “trong thánh điện Giêsu”. Thánh Điện này quý giá đến nỗi không đền thờ vật chất nào sánh bằng, kể cả thánh điện Giêrusalem được “ngôn sứ Khac-gai động viên dân phải lên rừng, lên núi, lấy gỗ quý, đá ngọc về xây dựng. Ai để nhà mình đẹp hơn Nhà Chúa, thì Chúa sẽ đóng cửa Trời không cho mưa thuận gió hòa, nên có gieo vãi cũng chẳng thu hoạch! Có ăn mà không đủ no, có uống mà không đủ say, có mặc mà không đủ ấm, đồng lương làm ra lọt qua túi thủng” (Kg 1,1-8 : Bài đọc năm lẻ).
Thực vậy, chính Chúa Giêsu mới là Đền Thờ cho muôn dân đến trú ẩn. Vì khi Ngài lấy dây thừng bện thành roi đánh đuổi phường buôn bán chiên bò bồ câu, cả những người đổi tiền ra khỏi Đền Thờ,và báo trước về số phận đền thờ Giêrusalem cho những kẻ muốn giết Ngài : “Cứ phá Đền Thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”. Nói thế ám chỉ chính Ngài sẽ bị người ta giết (phá), nhưng sau ba ngày Ngài sẽ từ cõi chết sống lại (x Ga 2,19-21). Ai đến trú ẩn nơi Ngài, thì được Ngài dẫn đưa vào nguồn sống, như Ngài nói : “Chính Thầy là con đường, và là sự thật, sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6 : Tung Hô Tin Mừng)
THUỘC LÒNG
Kẻ ác luôn luôn chạy trốn, dù không ai đuổi bắt! Còn người công chính đứng vững tựa sư tử non ! (Cn 28,1).






http://phaolomoi.net

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN NĂM A

CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN
NĂM A
Ed 33,7-9 ; Rm 13,8-10 ; Mt 18,15-20



BÀI ĐỌC I : Ed 33,7-9



7 Đức Chúa phán như sau : “Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết.8 Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: "Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết", mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó.9 Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.”

ĐÁP CA : Tv 94
Đ. Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : Các ngươi chớ cứng lòng. (c 7b.8a)

1 Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Người là Núi Đá độ trì ta, 2 vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,cùng tung hô theo điệu hát cung đàn.
6 Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục, quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta. 7 Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ, còn ta là dân Người lãnh đạo, là đoàn chiên tay Người dẫn dắt.
7b Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! 8 Người phán : "Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mơ-ri-va, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc, 9 nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.

BÀI ĐỌC II : Rm 13,8-10
8 Thưa anh em, anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.9 Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.10 Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy.

TUNG HÔ TIN MỪNG : 2Cr 5,19
Hall-Hall : Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người, và giao cho chúng tôi công bố lời hòa giải. Hall.

TIN MỪNG : Mt 18,15-20
15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân.17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.
18 "Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.

19 "Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ."




TRÁCH NHIỆM SỬA LỖI ANH EM !


Một trong những vấn đề lớn, tế nhị và phức tạp nhất trong sinh hoạt cộng đoàn, mà khó có ai trắng án trước mặt Chúa, đó là thái độ trước lỗi lầm của người anh em,thường người ta ở trong những thái cực xử người anh em rất nghiệt ngã : Bới đóc đời tư anh em rồi thịnh nộ ? Hoặc thổi phồng lỗi của anh em rồi rêu rao khắp nơi làm cho chuyện bé xé ra to, còn đa số người tỏ thái độ bàng quan không muốn dây dưa đến chuyện người khác. Rất ít người vì Đức Ái biết cầu nguyện xin Chúa chỉ cho cách giúp người anh em sống tốt hơn.
Giáo lý Công Giáo dạy không ai có thể lên Trời một mình, khi có khả năng mà không giúp đồng loại. Một trong những việc Chúa cần chúng ta quan tâm đến anh em là giúp nhau thoát vòng tội lỗi ! Muốn làm được việc này, chúng ta cần chu toàn hai bổn phận :
  • Bổn phận người lính canh Chúa đã trao để chăm sóc linh hồn người anh em.
  • Bổn phận làm cho người anh em nhận ra Thiên Chúa yêu thương họ qua cách đối xử của ta.
I. BỔN PHẬN NGƯỜI LÍNH CANH CHÚA ĐÃ TRAO ĐỂ CHĂM SÓC LINH HỒN NGƯỜI ANH EM.
Vì ba lý do sau đây :
1/ Vì Chúa“đặt tôi làm người lính canh” (Ed 33,7 : Bài đọc I).
Một người lính canh mà để cho kẻ thù lọt vào khu vực có trách nhiệm canh gác mà không báo động cho mọi người, cho dù kẻ thù chưa kịp ra tay, hắn đã bị tóm, thì cả tập thể vẫn kết án người lính canh trước! Còn nếu kẻ thù đã thực hiện được ý đồ, thì tai họa khủng khiếp ập đến mọi người! Thực vậy,
  • Vì tội ông Ađam không ngăn cản bà Evà hái trái Chúa cấm, lại còn toa rập ăn trái cấm với vợ, hậu quả là “đất đai hãy là đồ chúc dữ vì cớ ngươi, gai góc sẽ mọc lên cho ngươi.” (St 3,17-18).
  • Vì tội lỗi loài người, Thiên Chúa làm ngơ để cho ác thần gây lụt Hồng Thủy tiêu diệt muôn vật tốt đẹp Chúa đã dựng nên, trừ những gì có trong tàu Noe (x St 6).
  • Vì tội cuồng dâm của thành Sôđôm mà Chúa tung lửa trời xuống thiêu rụi toàn thành, và cả miền Gômôra cũng bị vạ lây ! (x St 7.8).
  • Vì tội vua Đavid ngoại tình rồi lập mưu giết tướng Uria để cướp vợ ông, hậu quả là : Ba năm mất mùa ? Ba tháng loạn lạc ? Ba ngày ôn dịch ? (x 2Sm 24,12-13).
Một số chứng từ trên đây cho thấy tội không chỉ làm khổ người đã vi phạm Luật, mà còn gây tai họa khủng khiếp đến mọi người sống trong cùng một môi trường! Ý thức được trách nhiệm này, Linh mục Gioan Maria Vianey nói : “Cha Sở thánh thiện, giáo dân đạo đức, cha Sở đạo đức giáo dân tầm thường, cha Sở tầm thường giáo dân ra quỷ
2/ Vì anh em là chi thể của tôi.
Trong đời sống Hội Thánh, không ai được làm ngơ để cho người anh em trong cộng đoàn Đức Tin, họ là chi thể của mình lại sống trong tội lỗi. Thánh Tông Đồ nói : “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung.” (1Cr 12,26). Vì sự liên đới này mà Công Đồng Vat.II dạy : “Chúa không cứu con người cách riêng rẽ thiếu liên kết” (HCHT số 9)
3/ Vì lo cho anh em là lo cho chính mình.
Ơn cứu độ của mỗi Ki-tô hữu gắn liền với phần rỗi của người anh em, nhất là bổn phận của cha mẹ đối với con cái ; bổn phận của hàng giáo sĩ với giáo dân, như Chúa dạy qua miệng ngôn sứ Êzêkiel : “Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: "Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết", mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.” (Ed 33,8-9 : Bài đọc I). Cũng vì thế, thánh Giacôbê nói : “Ai làm cho một tội nhân bỏ đường lầm lạc mà trở về, thì cứu được linh hồn ấy khỏi chết và che lấp được muôn vàn tội lỗi của mình.” (Gc 5,20).
II. BỔN PHẬN LÀM CHO NGƯỜI ANH EM NHẬN RA THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG HỌ QUA CÁCH ĐỐI XỬ CỦA TA.
Khi ta biết người anh em có vấn đề cần phải được góp ý, Đức Giê-su dạy ta nhẹ nhàng đi bốn bước đến với người anh em :
1- Phải trực tiếp gặp người anh em để đối thoại.
Tránh kiểu “nặc danh”. Vì có khi nhờ đối thoại ta lại khám phá ra mình mới là người cần sửa đổi. Kìa ông Nicôđêmô, một đầu mục Do Thái (giới đối kháng với Đức Giê-su), nhờ sau một đêm ông trò chuyện với Đức Giê-su (x Ga 3), nên khi ông thấy các đầu mục kết án Ngài, ông lại lên tiếng bênh vực : "Lề Luật của chúng ta có cho phép kết án ai, trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không? " (Ga 7,51)
2- Kèm theo hai ba nhân chứng.
Đức Giê-su dạy : “Nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba nhân chứng”(Mt 18,16 : Tin Mừng). Nghĩa là : Phải trưng bằng chứng xác thực, vì theo Luật Do Thái : “Chứng của hai người thì xác thực” (Dnl 19,15). Trong thực tế, có khi cả tập thể nhất trí về một vấn đề mà vẫn không đúng. Thực vậy, cả rừng người trước mặt tổng trấn Philatô đều cáo gian Đức Giê-su. Thế nên Ngài nói : “Hãy cho tôi biết tôi sai ở điểm nào?” (Ga 18,23). Vì thế ta phải hiểu điều sách Luật dạy : “Chứng của hai người thì xác thực”, có nghĩa là phán quyết của ta phải dựa vào Lời Chúa để cho mọi người nhận ra tội.Vì“Lời Chúa là đèn soi cho con bước,là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119/118,105). Do đó thánh Phaolô nói : “Chỉ ngang qua Lề Luật tôi mới biết mình có tội” (Rm 7,7b) chứ không phải đi rỉ tai lôi kéo thêm hai, ba đồng minh đến làm áp lực. Kìa trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, giữa rừng người chìm trong sai lạc gian ác, chỉ mình Đức Giê-su lớn tiếng hô : “Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37b).
3- Trình bày với người có trách nhiệm trong Hội Thánh.

Đức Giêsu dạy : “Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh.” (Mt 18,17a : Tin Mừng), tức là trình với người có trách nhiệm trong cộng đoàn đã tin Chúa. Chứ không phải là nói công khai ở quán nhậu hay phố chợ, nhất là không đưa nhau ra tòa án đời, để thánh Phaolô phải lên tiếng trách : “Khi anh em đưa nhau ra tòa án đời để kiện tụng, thì thật đáng xấu hổ !” (x 1Cr 6,1-11). Vì ta phải có trách nhiệm trình bày lỗi của người anh em với Cộng Đoàn Đức Tin, để Cộng Đoàn có trách nhiệm cứu giúp người anh em, như thánh Tông Đồ nói : “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người, và giao cho chúng tôi công bố lời hòa giải” (2Cr 5,19 : Tung Hô Tin Mừng).
4- Phó thác tội nhân cho Chúa.
Nếu đã đi đến với anh em ba bước trên mà không thấy kết quả gì, thì bước cuối cùng hãy “kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.” (Mt 18,17b : Tin Mừng). Điều này không có nghĩa là khai trừ kẻ có tội ra khỏi Hội Thánh (dứt Phép Thông Công), mà phó thác tội nhân cho lòng thương xót của Thiên Chúa qua lời cầu nguyện trong Thánh Lễ. Bởi vì dưới cái nhìn của thánh sử Mátthêu, người ngoại giáo và người thu thuế có chỗ đứng riêng trong trái tim của Đức Giê-su. Đan cử :
  • Lời giảng đầu tiên của Đức Giê-su là cho dân ngoại (x Mt 4,15t).
- Khi người ta phê phán Đức Giê-su gần gũi với quân thu thuế, Ngài trả lời : “Tôi đến vì người tội lỗi !” (Mt 9,13) Lời này tác giả Luca xác định thêm : “Tôi đến kêu gọi người tội lỗi hối cải !” (Lc 5,32). Ta lưu ý ông Matthêu không ghi “hối cải” mà chỉ nói “người tội lỗi”, vì nếu người tội lỗi đã biết nghe hai, ba người hoặc cộng đoàn nói, thì chắc chắn nó không nán lại trong tội, nó đã hối cải!
Vậy khi ta đã làm hết cách mà người anh em không sám hối, thì người anh em mới thực là kẻ tội lỗi, ta hãy đi dự Lễ và phó dâng người anh em đó cho Chúa. Bởi thế, sau bước thứ tư này, Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.” (Mt 18,18-20 : Tin Mừng). Tức là hãy cầu nguyện cùng Hội Thánh, vì sứ mệnh của Hội Thánh là cầu nguyện cho tội nhân, xin Chúa thương xót và xin mở cửa Thiên đàng cho họ vào. Lời dạy này làm cho chúng ta nhớ đến khi Đức Giê-su dâng Lễ trên đồi Sọ, có Đức Maria, thánh Gioan, bà Maria vợ ông Klôpa và bà Maria Madalena cùng cầu nguyện trong lúc anh trộm lành xin Chúa thương xót và Chúa đã cho anh vào Thiên Đàng ngay. Ta lưu ý Lời Đức Giê-su nói : “Nếu hai hay ba người hiệp thông cầu nguyện có Ngài ở đó”, thì phải hiểu là vị giáo sĩ không dâng Lễ một mình, mà phải có ít là một hay hai người giáo dân dự Lễ (x Giáo Luật số 106). Thế thì khi ta hiệp dâng Thánh Lễ với Hội Thánh, ta đã thuộc về Chúa Kitô và ta còn được hợp với ba thành phần trong Hội Thánh : Những Kitô hữu sống Đức Ái trên dương thế, các linh hồn nơi lửa luyện tội và các thánh trên Thiên Đàng cùng cầu nguyện, thì chắc chắn kẻ có tội được Chúa xử nhân ái không thua anh trộm lành (x Lc 23,43)
Do đó, thánh Phao-lô dạy : “Trong một buổi họp của anh em, ở đó có tôi hiện diện bằng tinh thần, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và với quyền năng của Người, chúng ta phải nộp con người đó cho Xa-tan, để phần xác nó bị huỷ diệt, còn phần hồn được cứu thoát trong Ngày của Chúa.” (1Cr 5,4-5).
Vấn đề sửa lỗi anh em điều cần thiết nhất ta phải xác tín : Tất cả các phương cách sửa lỗi người anh em, phải dựa trên Đức Ái. Thánh Tông Đồ dạy : “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại, yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Rm 13,8.10 : Bài đọc II). Ta lưu ý hai lần thánh Phaolô nói “yêu người là chu toàn Lề Luật”, để giúp ta gợi lòng thương cảm người anh em sa ngã, ta hãy nhớ rằng : “Ngã vào tội là người, nán lại trong tội là quỷ” (Ngạn ngữ Đức). Và ta hằng phải cám ơn Chúa, vì nếu Chúa không bịt mắt đồng loại, để họ nhìn biết tội lỗi của ta như Chúa biết, thì liệu ta có sống nổi không?
Thể hiện lòng yêu mến đó là :
a- Phải cầu nguyện cho người anh em, đặc biệt trong Thánh Lễ trước khi muốn sửa lỗi người nào, để xin Chúa Giêsu cho ta trái tim của Ngài (x Pl 2,5). Công Đồng Vat.II, trong Hiến Chế Phụng Vụ số 7 đã nhắc lại lời Đức Giê-su dạy hôm nay : “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,19-20 : Tin Mừng). Chân lý này được hiểu cụ thể mỗi khi Hội Thánh họp nhau cử hành Phụng Vụ.
b- Cầu nguyện còn để xin Chúa móc cái đà trong mắt mình trước đã, hầu ta thấy rõ mà lấy cái rác khỏi mắt người khác (x Mt 7,1t). Vì thế trong giờ Kinh Phụng Vụ ban sáng, mọi người đều phải cầu nguyện : “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa, Người phán : Các ngươi chớ cứng lòng” (Tv 95/94,7b.8a : Đáp ca).
c- Việc sửa lỗi người khác rất cần phải tế nhị và khéo léo. Vì nói đúng, làm đúng, mà thiếu khéo léo, sẽ gây đổ vỡ tồi tệ hơn. Do đó ta còn phải nói khéo, làm khéo nữa. Nhưng thế nào là khéo, ta còn phải cầu nguyện với trái tim biết yêu, như thánh Tông Đồ dạy: “Lời lẽ của anh em hằng phải thanh nhã, mặn mà, ý nhị, biết đối đáp sao cho phải với mỗi một người” (Cl 4,6 – Bản dịch NTT).
d- Khi gặp người có lỗi, ta hãy khiêm tốn bắt đầu bằng câu : “Nếu tôi nói sai, xin bỏ qua, vì tôi không muốn ai nghĩ xấu nói sai về bạn...”
e- Với bản năng tự vệ, kẻ có lỗi thường phản ứng : im lặng hay tìm cách biện hộ, hoặc chối tội! Ta không nên gay gắt kết án là “ngoan cố”, để phải thịnh nộ, hoặc thất vọng !
Nhưng ta phải tin Lời Chúa đã hứa : “Bất cứ điều gì anh em cầu xin hãy tin là đã được và sẽ thấy thành sự” (Mc 11,24). Hãy noi gương bà Monica, kiên nhẫn hơn 30 năm cầu xin cho con là Augustin, mãi đến lúc trước khi chết, bà mới được Chúa nhận lời cho Augustin trở lại đạo. Nhưng khi bà qua đời, bà trở thành thánh Bổn Mạng của Các Bà Mẹ Công Giáo ; và con của bà trở thành thánh Giám mục Tiến sĩ Hội Thánh! Rõ ràng điều ta xin thì dường như không thấy, nhưng điều ta được lại vượt quá ước mơ !
THUỘC LÒNG.
Chúa đặt tôi làm người lính canh dân Ngài, khi nó phạm tội, tôi phải dựa vào Lời Chúa mà răn dạy nó, để nó trở lại và được sống. Nếu tôi không răn dạy nó, để nó chết trong tội, Chúa sẽ đòi tôi phải đền nợ máu nó ! (x Ed 33,7-9).




http://phaolomoi.net

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH 
 
http://longchuathuongxot.net/

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Lời Chúa tháng 9.2011

Lời Chúa tháng 9.2011

Chúa nhựt 4.9 tuần 23: Tháo gỡ.

Thân xác nào mà không dính bụi trần. Linh hồn nào mà chả có tội lỗi sai lầm. Ðó là những bước đi sai, những chọn lựa lầm, những việc làm xấu. Vì ai cũng có thể là tội nhân, nên không thể lên mặt với người khác khi thấy họ phạm tội. Làm người mà không bao giờ phạm tội mới là điều lạ! Ðừng lên án kẻ khác, nhưng hãy biết cảm thông và xót thương chân thành. Ðó là con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để kẻ khác nhận ra sai lầm của họ. Mỗi người có 1 hoàn cảnh riêng. Không ở trong hoàn cảnh của họ, chúng ta không thể biết được sự thật. Vì chính hoàn cảnh khiến họ sai lỗi như thế. Chỉ có tình yêu thương và sự kiên trì sẽ giúp tội nhân nhìn ra sự thật và giải thoát họ khỏi vòng tội lỗi. Hãy đứng về phía họ, đặt mình trong hoàn cảnh của họ, cùng chiến tuyến với họ, như 1 người đồng hành, để tháo gỡ họ khỏi sai lầm. Dù họ như thế nào đi nữa, thì chúng ta vẫn phải cầu nguyện cho họ.



Chúa nhựt 11.9 tuần 24: Tha thứ.


Khi bị kẻ khác xúc phạm, chúng ta phản ứng như thế nào? Phải trả đũa, phải báo thù vì bị nhục? Hậu quả sẽ ra sao, không biết đâu mà lường! Trên thập giá, Chúa cầu xin cho kẻ dữ: xin Cha tha cho chúng nó, vì chúng nó không biết việc chúng nó làm (Luca 23,34). Chúa tha thứ và mời gọi chúng ta tập tha thứ cho nhau. Không phải 7 lần, mà 70 lần 7 (Mattheu 18,22). Chúa đòi hỏi vượt quá sức con người. Làm sao chúng ta có thể thi hành lời Chúa dạy được? Nhưng chúng ta phải biết điều này: con người làm điều lầm lỗi, bởi vì con người mù quáng và thiếu hiểu biết. Vì thế, họ đáng thương hơn là đáng trách. Và không ai thực sự cố tình làm điều xấu hay hành động vì ác tâm. Cho nên, chúng ta đừng vội vàng kết án lẫn nhau, nhưng hãy biết tha thứ cho nhau như Chúa làm gương. Kinh nghiệm cho thấy là mỗi người từng sai lỗi nhiều lần trong cuộc sống, nhưng chưa bao giờ chúng ta thực sự muốn làm điều xấu!



Chúa nhựt 18.9 tuần 25: Lòng thương xót.


Cùng làm 1 việc trong 1 thời gian, chúng ta có bất bình và ghen tị với người khác, khi thấy họ được lãnh lương hơn mình không? Lòng ghen tị xuất hiện từ khi có loài người. Cain ghen tị với Aben, nên giết em. Vua Saolê ghen tị với Ðavit, nên tìm cách ám hại ông. Người biệt phái ghen tị với kẻ tội lỗi, vì Chúa yêu thương và tiếp đón họ. Chúng ta có muốn kẻ khác hơn chúng ta không? Lòng ghen tị làm xấu đi tương quan giữa con người với nhau. Lòng ghen tị làm hại lẫn nhau. Muốn dập tắt lòng ghen tị, chúng ta phải biết điều này: sự thành công và may lành của kẻ khác đem lại lợi ích cho chúng ta nữa. Phải có kẻ tài giỏi và giàu sang hơn chúng ta, để giúp ích cho xã hội. Bởi vì, con hơn cha thì nhà có phúc, sau hơn trước thì nước mới tiến lên. Mọi người đều có liên hệ với nhau. Sự thành đạt hay thất bại của kẻ này có ảnh hưởng đến kẻ khác. Vì vậy, hãy vui mừng, vì có kẻ khác hơn chúng ta.



Chúa nhựt 25.9 tuần 26: Nghe và làm.


Trong phúc âm, người thu thuế và gái điếm là 2 đối tượng cụ thể của giới tội lỗi. Nhưng Chúa nói với người biệt phái: họ vào nước trời trước các ông. Vì họ nghe lời Chúa, nhận ra tình trạng sống của họ, sẵn sàng sám hối, biết sửa mình và đổi đời để vươn tới cuộc sống mới. Chúa mời gọi chúng ta hãy vào làm vườn nho của ngài. Vườn nho là cuộc đời của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn, là xã hội, là giáo hội. Nghe lời Chúa như thế nào và làm theo hay không: đó là việc của mỗi người chúng ta. Từ tai đến tay là con đường rất dài. Ðược vào nước trời hay không: dựa vào cách chúng ta đón nhận và làm theo lời Chúa dạy. Tùy theo khả năng và điều kiện Chúa ban cho mỗi người, chúng ta hãy đáp lại lời mời gọi của Chúa. Tiêu cực thì đừng làm vì ganh tị, hư danh và tư lợi. Tích cực thì có cùng cảm nghĩ và ý hướng, cùng tâm hồn và sự khiêm tốn, để lo tìm kiếm ích lợi chung cho mọi người.





Lm. Nguyễn Thông

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN NĂM A

CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN
NĂM A
Gr 20,7-9 ; Rm 12,1-2 ; Mt 16,21-27



BÀI ĐỌC I : Gr 20,7-9

7 Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng. Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con. 8 Mỗi lần nói năng là con phải la lớn, phải kêu lên: "Bạo tàn! Phá huỷ! " Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày. 9 Có lần con tự nhủ: "Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa." Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được !

ĐÁP CA : Tv 62
Đ. Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
linh hồn còn đã khao khát Ngài. (x c 2)

2 Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông,như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.
3 Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện,để thấy uy lực và vinh quang của Ngài. 4 Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống, miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương.
5 Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng, và giơ tay cầu khẩn danh Ngài. 6 Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc, môi miệng con rộn rã khúc hoan ca.
8 Quả thật Ngài đã thương trợ giúp, nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui. 9 Trót cả tâm tình, con cùng Ngài gắn bó, giơ tay quyền lực, Ngài che chở phù trì.

BÀI ĐỌC II : Rm 12,1-2
1 Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người.2 Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa : cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.

TUNG HÔ TIN MỪNG : x Ep 1,17-18
Hall-Hall : Xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Hall.

TIN MỪNG : Mt 16,21-27
21 Từ khi ông Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, thì Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.22 Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: "Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy! "23 Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: "Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người."
24 Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.25 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.26 Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?
27 "Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm. "



CHẾT VÌ SỰ THẬT MỚI XÂY DỰNG HỘI THÁNH CHÚA KI-TÔ
Ta thấy lạ vì ông Phê-rô đã được Cha trên trời mở miệng tuyên xưng Đức Tin về Đức Giê-su : “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16.21a :Tin Mừng), nên được Đức Giê-su tín nhiệm, đặt ông làm thủ lãnh xây dựng Hội Thánh Ngài (Chúa nhật trước). Thế mà trong Tin Mừng Chúa nhật này, ông Phê-rô bị Đức Giê-su mắng là satan, Ngài còn đuổi ông lui lại đằng sau ! Ấy chỉ vì ông không hiểu được đường lối của Thiên Chúa (x Mt 16,23b : Tin Mừng), ông tưởng Thầy mà bị kẻ ác lấy mạng đó là dấu Thiên Chúa không thương, nên kéo Thầy về phía mình lên tiếng khuyên răn : "Chúa thương Thầy, đừng để Thầy gặp chuyện ấy" (x Mt 16,22 : Tin Mừng).
Nếu ông Phê-rô còn muốn được Thầy tín nhiệm đặt làm thủ lãnh Hội Thánh Ngài, thì ông phải chuộc lại bằng tình yêu, dù là tình yêu mỏng dòn. Tình yêu ấy thể hiện bằng cách phục vụ Tin Mừng đến nỗi chấp nhận mất mạng như Thầy Giêsu, thì ông mới đáng lãnh quyền chăm sóc đoàn chiên Thầy trao (x Ga 21,15t). Vì thế, Đức Giê-su lên tiếng dạy các môn đệ : “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.25 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.26 Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?” (Mt 16, 24-26 : Tin Mừng). Một trong những khổ hình của người môn đệ theo Đức Giê-su quan trọng nhất là vì phục vụ Tin Mừng mà gặp gian khổ, chẳng hơn gì số phận của ngôn sứ Giêrêmia, ông đã phải rên lên : “7 Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng. Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con. 8 Mỗi lần nói năng là con phải la lớn, phải kêu lên: "Bạo tàn! Phá huỷ! " Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày.” (Gr 20,7-8 : Bài đọc I). Tuy thế ngôn sứ Giêrêmia cũng chỉ là hình bóng diễn tả những gian khổ Đức Giêsu phải chịu vì sứ mệnh loan báo Lời Chúa Cha. Ngài chẳng những gặp khổ do người đời mà còn khổ vì những thân tộc của Ngài :

  • Khổ do người đời.
    • Ngài phải thức suốt đêm dạy Giáo Lý cho ông Nicôđêmô (x Ga 3).
    • Ngài phải nhịn đói, chịu khát trong lúc giảng Lời cho người phụ nữ xứ Samari (x Ga 4)
    • Có ăn thì ai cũng bu đến với Ngài, nhưng khi họ nghe Ngài muốn ban của ăn đích thực là Thịt Máu Ngài, để cho người ta được sống đời đời, thì tất cả đoàn lũ dân chê bai Ngài ăn nói thiếu văn hóa, họ lũ lượt kéo nhau đi, trong đó có nhiều môn đệ đã từng theo Ngài (x Ga 6).....
  • Đau khổ vì những người thân tộc.
    • Chính cha mẹ của Đức Giêsu cũng bực mình vì Ngài trốn cha mẹ ở lại Đền Thờ dạy Giáo Lý (x Lc 2,41t).
    • Đức Giê-su đang say sưa giảng, thì những anh em của Ngài đến lôi Ngài đi và nói với mọi người : “Ông này điên đó!” (Mc 3,21).
…….
Chung kết cuộc đời Đức Giê-su chỉ vì hết lòng loan báo Sự Thật, mà nơi tòa án, quan tòa Philatô đã chế nhạo : “Sự thật là cái quái gì?” (Ga 18,38). Cuối cùng Ngài bị lãnh án tử và lúc đó người ta mới đề cập đến vương quyền của Ngài, như tổng trấn Philatô hỏi : “Ông là vua ư?” (x Ga 18,33-37).

Thánh Tông Đồ cũng đã rập khuôn tin thần phục vụ Tin Mừng trong gian khổ như Thầy Giêsu. Ông nói :
* “Trong mọi sự, chúng tôi luôn chứng tỏ mình là những thừa tác viên của Thiên Chúa: gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên trì chịu đựng…. khi vinh cũng như lúc nhục, được tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả.” (2Cr 6,4-10)
* “Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em.…Tại Đa-mát, tổng đốc của vua A-rê-ta đã cho lính canh gác thành để bắt tôi. Nhưng người ta đã cho tôi vào một cái thúng, rồi thòng qua cửa sổ dọc theo tường thành. Thế là tôi thoát khỏi tay ông ta.” (2Cr 11,23-33)
* "Lần kia những người Do Thái từ Antiokia và Ikonio đến thuyết phục được đám đông, họ ném đá ông Phaolô, tưởng đã chết, nên họ lôi xác ông vất bỏ ngoài thành" (Cv 14,19).
* “Nhưng trên tất cả các điều ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta !” (Rm 8,37).
Như thế ông Phaolô cũng không thua kém gì tinh thần phục vụ Lời của ngôn sứ Giêrêmia, vì có lúc ngôn sứ này cũng phải thốt lên : “Tôi tự nhủ sẽ không nghĩ đến Chúa nữa, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa. Nhưng Lời của Chúa như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Tôi nén chịu đến nỗi phải hao mòn, nhưng làm sao nén được” (Gr 20,9 : Bài đọc I), còn Tông Đồ Phaolô thì nói : “Tôi có sự thật về Đức Ki-tô, thì không ai bịt miệng tôi được!” (2Cr 11,10 : Bản dịch NTT).
Ông Phaolô sống như thế mới lên tiếng khuyên các tín hữu : “Vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa : cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,1-2 : Bài đọc II).
Phải xác tín rằng : Muốn nói điều gì đáng được người ta nghe, thì ta phải chấp nhận mất mạng vì lời mình nói.
Lần kia tên Gian Dối đang đi đường thấy anh Sự Thật ốm tong teo nằm co ro bên vệ đường. Gian Dối hỏi Sự Thật :
  • Sao mày nằm co ro ở đây?
  • Tôi đói quá anh ơi!
  • Hãy đứng dậy theo tao, mày sẽ được no thỏa.
Sự Thật nghe thế mừng quá, anh đứng phắt dậy đi theo Gian Dối, nó dẫn vào một nhà hàng sang trọng, gọi đủ thứ món cao lương mỹ vị, cùng với nhiều loại rượu hảo hạng. Ăn xong, Gian Dối gọi người hầu bàn lại gạn hỏi :
  • Tiền thối lại của tao đâu, sao lâu vậy?
Chủ quán nghe được vội chạy ra xin lỗi và hỏi Gian Dối đã đưa tiền cho ai, Gian Dối đáp ngay :
  • Ông hãy đi hỏi những người phục vụ của ông.
Chủ quán vội gọi tất cả các nhân viên lại và hỏi xem ai đã nhận tiền của thực khách, nhưng tất cả đều lắc đầu. Lúc ấy Gian Dối rút ra một gói tiền lớn và gay gắt nói :
- Tôi không có giờ để cãi với các người, đây tôi trả tiền lần thứ hai, lo tính và thối lại cho tôi.

Ông chủ mắc cỡ với các thực khách đang ngồi trong nhà hàng, nên xin lỗi Gian Dối và nói :
- Xin ông bỏ tiền vào túi, để tôi điều tra và sẽ phạt sau.
Nghe thế các nhân viên đều giơ tay lên trời thề và van lơn :
- Ôi sự thật ở đâu? Hãy hiện diện để minh chứng cho chúng tôi.
Anh Sự Thật ngồi ở bàn nói thầm :
  • Sự Thật đây, nhưng tôi đã bị cột lưỡi!
Thế là Gian Dối và Sự Thật ra khỏi quán mà không phải trả đồng nào. Gian Dối nói với Sự Thật :
- Anh thấy tôi tài chưa, lúc nào cũng ăn ngon mặc đẹp, và thiên hạ luôn phải kính nể tôi.
Nhưng Sự Thật thở dài và nói :
- Tôi chỉ mắc lừa anh một lần, thà tôi chết đói ở bờ bụi, chẳng thà ăn no mà bị cột lưỡi. Thôi vĩnh biệt anh!
Chúa Giê-su nói với quan Phi-la-tô : “Ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng tôi”, ông Phi-la-tô đáp ngay : “Sự thật là cái quái gì?” (Ga 18,37-38).
Ông Phi-la-tô biết rõ Chúa Giê-su vô tội, những kẻ cáo gian Ngài chỉ vì ghen tỵ. Sự thật là thế! Nhưng ông Phi-la-tô không can đảm tha bổng cho Chúa Giê-su, vì danh lợi đã cột lưỡi ông!
Vậy “xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ đâu là niềm hy vọng mà Người kêu gọi đem lại cho chúng ta” (x Ep 1,17-18 : Tung Hô Tin Mừng). Và cầu nguyện : “Lạy Thiên Chúa, Ngài là chúa con thờ, linh hồn con đã khao khát Ngài” (Tv 63/62,2 : Đáp ca).
THUỘC LÒNG
Không đổ máu không có ơn cứu độ (Dt 9,22).


http://phaolomoi.net

Linh mục GIUSE ĐINH QUANG THỊNH